vanban.org

Bản án 11/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 22/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy một phong bì đựng bao gói vật chứng trước khi gi m định, được niêm phong có chữ ký ghi họ tên “Võ Như Thuận”, “Đỗ Quốc Kh nh”, “Lê Minh Phúc” và hình dấu tròn màu đỏ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẠ HUOAI
TỈNH LÂM ĐỒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2020/HS-ST
Ngày 22-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Lập

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn An

Ông Cao Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Khánh Thành, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2020, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Mađaguôi huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh năm 1993 tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn gi o: Thiên Chúa; con ông Nguyễn Văn Toản, sinh năm 1971 và bà Mai Thị Quyên, sinh năm 1973; bị c o chưa có vợ, con; tiền n, tiền sự: không.

Bị bắt tạm giam ngày 12-01-2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971; nơi cư trú Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

- Người làm chứng: Anh Hồ Thanh K, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp Phú Lâm C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo c c tài liệu có trong hồ sơ vụ n và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 08-01-2020, Hồ Thanh Khôi, sinh năm 1989, nơi cư trú Ấp Phú Lâm 5, xã Phú Sơn, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai đến nhà Nguyễn Văn C ở Ấp Phú Lâm 1, xã Phú Sơn, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng hỏi có ma túy hay không, Cường nói là không. Một lúc sau Cường nói với Khôi là “tý nữa đi với em” rồi Cường ra lấy xe mô tô biển kiểm so t 54 Y3-6164, nhãn hiệu Genuin để Khôi điều khiển còn Cường ngồi phía sau hướng dẫn hướng đi. Mục đích của Cường là đi đến nhà đối tượng tên Tuấn (không rõ nhân thân, lý lịch, nơi cư trú) thuộc xã Mađaguôi, huyện Đạ Huoai để mua ma túy sử dụng, Cường không nói với Khôi biết việc Cường đi mua ma túy. Khi đến trước nhà Tuấn, Cường nói với Khôi đứng bên ngoài đợi còn Cường đi vào và đứng bên hàng rào gọi hỏi và mua của Tuấn 350.000 đồng Heroine. Sau khi có được ma túy Cường cầm gói ma túy trên tay phải và đi ra ngoài rồi bảo Khôi chở về. Đến khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày khi đi đến địa phận thôn 5, xã Mađaguôi, huyện Đạ Huoai thì bị Công an xã chặn lại kiểm tra, lúc này do sợ nên Cường đã thả gói ma túy xuống đất nhưng bị phát hiện lập biên bản đối với Cường, đồng thời phối hợp với Cơ quan điều tra - Công an huyện Đạ Huoai thu giữ gói ma túy và niêm phong rồi bàn giao vụ việc cho Công an huyện Đạ Huoai giải quyết theo thẩm quyền.

Theo kết luận gi m định số 66/GĐ-PC09 ngày 10-01-2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu cục bột đựng trong một gói nylon gửi đi gi m định là ma túy có khối lượng 0,1710g (không phẩy một bảy một không gam) loại Heroine.

Tại c o trạng số 10/CT-VKSĐH-MT ngày 27 th ng 5 năm 2020 của Viện kiểm s t nhân dân huyện Đạ Huoai truy tố ra trước Toà n nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng để xét xử bị c o Nguyễn Văn C về tội tàng trữ tr i phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Bộ luật hình sự năm năm 2015).

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như c o trạng đã nêu, không có ý kiến bổ sung hay ý kiến gì khác. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị c o. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 24 đến 36 tháng tù; xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy một phong bì đựng bao gói vật chứng trước khi giám định, được niêm phong có chữ ký ghi họ tên “Võ Như Thuận”, “Đỗ Quốc Khánh”, “Lê Minh Phúc” và hình dấu tròn màu đỏ của phòng “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng”; 0,0746g Heroine được niêm phong trong bao thư số 66/2020, có 03 dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng, có chữ ký ghi họ tên “Võ Như Thuận”, “Đỗ Quốc Kh nh”, “Lê Minh Phúc”; Đối với chiếc xe mô tô hiệu Genuin biển kiểm so t 54Y3-61-64, ông Nguyễn Văn Toản khai là của ông Toản. Tuy nhiên, chiếc xe nói trên không x c định được số m y, số khung và ông Toản cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng minh về nguồn gốc chiếc xe nói trên, vì vậy đề nghị giao cho Cơ quan điều tra – Công an huyện Đạ Huoai tiếp tục x c minh xử lý theo quy định của ph p luật; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng của Điều tra viên; Kiểm s t viên, Thẩm ph n, Thư ký Tòa n. Tại phần tranh luận bị c o không kêu oan, không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm s t về tội danh cũng như về mức hình phạt, tuy nhiên trong lời nói sau cùng bị c o xin Hội đồng cân nhắc giảm nhẹ hình phạt để bị c o có cơ hội sớm được trở về gia đình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Toản đề nghị xin được nhận lại xe mô tô biển kiểm so t 54 Y3-6164, nhãn hiệu Genuin vì cho rằng chiếc xe nói trên là tài sản hợp ph p của ông, tuy nhiên ông không xuất trình được bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh về nguồn gốc chiếc xe nói trên là hợp ph p.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong qu trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Qu trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của c c Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó x c định c c Cơ quan tiến hành tố tụng; các hành vi, quyết định tố tụng của c c cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra bị c o đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như c o trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị c o được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận gi m định và c c tài liệu, chứng cứ kh c có trong hồ sơ vụ n. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để x c định vào khoảng 19 giờ 45 phút ngày 08 th ng 01 năm 2020 tại đoạn đường thuộc thôn 5, xã Mađaguôi bị c o có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy trong người với mục đích là để sử dụng cho bản thân nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Theo kết luận gi m định số 66/GĐ-PC09 ngày 10-01-2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu cục bột đựng trong một gói nylon gửi đi gi m định là ma túy có khối lượng 0,1710g (không phẩy một bảy một không gam) loại Heroine. Hành vi nêu trên của bị c o đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, quan điểm truy tố của Viện kiểm s t nhân dân huyện Đạ Huoai truy tố bị c o tại c o trạng số 10/CT-VKSĐH-MT ngày 27 th ng 5 năm 2020 là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng ph p luật.

Hành vi của bị c o là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến chính s ch của Nhà nước về độc quyền quản lý c c chất ma túy (Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT: 09, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15-5-2018 của Chính phủ), gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Bản thân bị c o có đầy đủ năng lực tr ch nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi tàng trữ tr i phép chất ma túy là vi phạm ph p luật hình sự, song bị c o vẫn cố ý thực hiện chỉ vì nhằm thỏa mãn cho nhu cầu bản thân. Hành vi này nếu không bị ngăn chặn kịp thời sẽ kéo theo nhiều tệ nạn xã hội cũng như c c tội phạm kh c phát sinh. Do vậy, Hội đồng xét xử cần thiết phải ra một bản án nghiêm khắc phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tr ch nhiệm hình sự đối với bị c o:

Về nhân thân: Từ trước đến nay bị c o chưa có tiền n, tiền sự; chỉ vì nghiện ma túy ma bị c o nhất thời phạm tội nên Hội đồng xét xử cũng cần xem xét khi lượng hình.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi tàng trữ 01 gói ma túy có khối lượng 0,1710 (không phẩy một bảy một không gam) loại Heroine, không có tình tiết định khung tăng nặng nào được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 nên bị cáo chỉ bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng tr ch nhiệm hình sự: Bị c o không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ tr ch nhiệm hình sự: Trong qu trình Điều tra - truy tố - xét xử bị c o có th i độ thành khẩn khai b o về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tr ch nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Qua xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tr ch nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị c o. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 còn quy định hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, tuy nhiên thấy rằng bị c o là người nghiện ma túy; không có nghề nghiệp, không thu nhập ổn định nên không cần thiết p dụng hình phạt bổ sung đối với bị c o.

Đối với Hồ Thanh Khôi là người được bị c o Cường rủ đi đến nhà đối tượng tên Tuấn để mua ma túy nhưng Cường không nói cho Khôi biết việc bị cáo đi mua ma túy, cũng như có hành vi tàng trữ ma túy, giữa bị c o và Khôi không có sự bàn bạc hay góp tiền để mua ma túy. Do vậy không xử lý trách nhiệm hình sự đối với Khôi.

Đối với đối tượng tên Tuấn là người trực tiếp b n ma túy cho bị c o, Cơ quan điều tra sẽ t ch vụ n mua b n tr i phép chất ma túy để tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau theo quy định của ph p luật là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Đối với một phong bì đựng bao gói vật chứng trước khi gi m định, được niêm phong có chữ ký ghi họ tên “Võ Như Thuận”, “Đỗ Quốc Kh nh”, “Lê Minh Phúc” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng”; 0,0746g Heroine được niêm phong trong bao thư số 66/2020, có 03 dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng, có chữ ký ghi họ tên “Võ Như Thuận”, “Đỗ Quốc Kh nh”, “Lê Minh Phúc” là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không có gi trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu Genuin biển kiểm so t 54 Y3-61-64 ông Nguyễn Văn Toản khai là của ông Toản. Tuy nhiên, chiếc xe nói trên không x c định được số m y, số khung và ông Toản cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng minh về nguồn gốc chiếc xe nói trên, vì vậy giao lại cho Cơ quan điều tra – Công an huyện Đạ Huoai tiếp tục x c minh xử lý theo quy định của ph p luật.

Về n phí: Buộc bị c o phải chịu n phí hình sự sơ thẩm theo quy định của ph p luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tình từ ngày bị cáo bắt tạm giam ngày 12-01-2020.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy một phong bì đựng bao gói vật chứng trước khi gi m định, được niêm phong có chữ ký ghi họ tên “Võ Như Thuận”, “Đỗ Quốc Kh nh”, “Lê Minh Phúc” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng”; 0,0746g Heroine được niêm phong trong bao thư số 66/2020, có 03 dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng, có chữ ký ghi họ tên “Võ Như Thuận”, “Đỗ Quốc Kh nh”, “Lê Minh Phúc”.

(Chi tiết vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 28-5-2020 giữa cơ quan điều tra Công an huyện Đạ Huoai và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Huoai).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kh ng c o đối với bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên n; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền khang cáo trong hạn 15 ngày về phần có liên quan đến quyền, lợi ích của mình.

Cỡ chữ