vanban.org

Bản án 11/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 06/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 300.

Tịch thu, tiêu hủy 3.048 bao thuốc lá các loại hoàn trả sau giám định, 07 hộp catong (hiện đang có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ theo biên bản giao nhận ngày 23/3/2020); Trả lại cho bị cáo Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 30E-00889/HKD (hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị T phạm tội buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 300.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAM LỘ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 11/2020/HS-ST
Ngày 06-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Ngọc Long.

2. Ông Nguyễn Quang Duy.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Thùy Phương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cam Lộ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2020/TLST - HS ngày 16 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 11/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T, sinh ngày 09/01/1984 tại Quảng Trị; nơi cư trú: thôn K, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Hồ Thị V; có chồng và 03 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2019; tiền án: Không có. Tiền sự: Ngày 11/11/2019 bị Đội Quản lý thị trường số 5 – Cục Quản lý thị trường tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Buôn bán hàng cấm”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/01/2020 đến ngày 19/01/2020, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quá trình buôn bán tại quầy Bách hóa tổng hợp H, Nguyễn Thị T nhận thấy có nhiều khách hỏi mua thuốc lá ngoại nên khoảng đầu năm 2019 T đã thu mua thuốc lá ngoại nhập lậu từ nhiều người khác nhau về cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Vào lúc 18 giờ ngày 13/01/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cam Lộ bắt quả tang tại quầy Bách hóa tổng hợp H và nhà của T thu giữ 3.360 bao thuốc lá nhập lậu các loại. Tính đến thời điểm bắt quả tang, T đã bán được 400 bao thuốc lá nhãn hiệu Jet, 300 bao thuốc lá nhãn hiệu 555, thu lợi 1.670.000 đồng.

Theo kết quả giám định tại kết luận giám định số 119/KLGĐ-PC09 ngày 17/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và kết luận giám định số 88/C09C(Đ4) ngày 20/01/2020 của Phân viên Khoa học Hình sự tại Đà Nẵng thì 3.360 bao thuốc lá gửi đến giám định đều là thuốc lá thành phẩm được sản xuất tại nước ngoài.

Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSCL ngày 12/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ truy tố Nguyễn Thị T tội: “Buôn bán hàng cấm” theo điểm e khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”;

- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 190; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 35 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử Nguyễn Thị T từ 300.000.000 đồng đến 350.000.000 đồng.

- Áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 3.048 bao thuốc lá các loại hoàn trả sau giám định, 07 hộp giấy catong; trả lại cho bị cáo giấy chứng nhận hộ kinh doanh số 30E-00889/HKD;

- Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Nguyễn Thị T khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện, nội dung lời khai phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có căn cứ khẳng định cuối năm 2019, đầu năm 2020 Nguyễn Thị T đã thực hiện hành vi mua bán 3.360 bao thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất được nhập lậu vào Việt Nam. Hành vi của Nguyễn Thị T cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm e khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự quy định hình phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, cần xử phạt mức án nghiêm khắc. Tuy nhiên thấy rằng, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm, tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính, đang nuôi con nhỏ 09 tháng tuổi, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLLS. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để xem xét xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 190 BLHS, đồng thời thấy rằng, bị cáo phạm tội thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, áp dụng hình phạt tiền là phù hợp, thể hiện nguyên tắc nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

Về xử lý vật chứng và các đồ vật, tài liệu thu giữ trong vụ án:

- 3.360 bao thuốc lá các loại, trong giai đoạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cam Lộ đã tiến hành trưng cầu giám định. Mẫu vật hoàn trả sau giám định 3.048 bao thuốc lá là vật cấm tàng trữ nên tịch thu, tiêu hủy;

- 07 hộp catong không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy;

- Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 30E-00889/HKD, do không cấm hành nghề đối với bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có khiếu nại gì.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 190, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 300.000.000 đồng;

- Tịch thu, tiêu hủy 3.048 bao thuốc lá các loại hoàn trả sau giám định, 07 hộp catong (hiện đang có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ theo biên bản giao nhận ngày 23/3/2020);

- Trả lại cho bị cáo Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 30E-00889/HKD (hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án);

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Thị T đã nộp tại biên lai nộp tiền số AA/2010/001479 ngày 04/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cam Lộ để đảm bảo thi hành án;

- Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ