vanban.org

Bản án 11/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 06/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn G phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn G 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/02/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TLê Văn Gi - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn G phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2020/HS-ST
Ngày: 06-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Chu Y.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Phúc;

2. Ông Nguyễn Văn Hải.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Đình Quế Anh – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Chí Trung – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Văn G (tên gọi khác: C), sinh ngày 30/6/1994, tại huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: ấp T, xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm mướn; CCCD số: 072094003424; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn P và bà Nguyễn Thị G; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 02/12/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng (đã chấp hành xong). Ngày 12/4/2019, bị Ủy ban nhân dân xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa nộp phạt). Ngày 01/8/2019, bị Công an xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã nộp phạt xong); Nhân thân: Ngày 28/4/2015, bị Công an huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 15.000.000 đồng về hành vi buôn bán hàng cấm. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/02/2020 đến nay. có mặt

Bị hại: Anh Đặng Xuân H, sinh năm: 1989. Nơi cư trú: Ấp Phước Th, xã Phước Chỉ, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm: 1964. Nơi cư trú: Ấp T, xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 13/12/2019, Lê Văn G đi bộ đến quán cà phê “Thanh Tuyền” thuộc ấp T, xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh do anh Đặng Xuân H và chị Đặng Thị Tuyền làm chủ để uống nước. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi anh H đang ngồi ăn cơm cùng chị Tuyền và ông Đặng Văn Nhiều, thì G hỏi mượn xe mô tô Sirius biển số 86B3-316.10 của anh H để đi mượn tiền về trả nợ cho anh H, anh H đồng ý cho G mượn xe. Sau khi nhận được xe, G điều khiển xe chạy được một đoạn thì nảy sinh ý định chiếm đoạt nên điều khiển xe sang thành phố Bavet, tỉnh Svayrieng, Vương quốc Campuchia bằng đường tiểu ngạch để thế chấp lấy 3.000.000 đồng đánh bạc thua hết. Ngày 28/12/2019, anh H đến Cơ quan Công an trình báo sự việc và yêu cầu xử lý đối với Lê Văn G.

Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTTTHS ngày 14/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh kết luận: xe mô tô biển số 86B3-316.10 có trị giá là 4.040.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, bị can Lê Văn G thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Xe mô tô biển số 86B3-316.10 của bị hại không thu hồi được.

* Về bồi thường thiệt hại: Bà Nguyễn Thị G là mẹ ruột của G đã thỏa thuận bồi thường 6.000.000 đồng cho bị hại xong, Lê Văn G đồng ý việc bồi thường. Bà G không yêu cầu G trả lại số tiền đã bồi thường cho anh H. Anh H đã nhận được tiền bồi thường, tự nguyện làm đơn bãi nại, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Lê Văn G không có tài sản nên Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh không kê biên tài sản.

Tại bản cáo trạng số: 08/QĐ/KSĐT ngày 13 tháng 3 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu đã truy tố Lê Văn G về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phần luận tội, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm mà VKSND huyện Bến Cầu đã truy tố, đề nghị tuyên bố Lê Văn G phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản", đề nghị áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 175 và điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo G từ 06 đến 09 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại xong.

Bị cáo thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa. Bị cáo đồng ý với việc bà G thay bị cáo bồi thường cho anh H số tiền 6.000.000 đồng.

Anh H có đơn xin xét xử vắng mặt và trình bày không yêu cầu bồi thường gì khác, yêu cầu Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bà G trình bày số tiền 6.000.000 đồng đã bồi thường cho bị hại là bà tự nguyện bồi thường thay bị cáo và không có yêu cầu bị cáo hoàn trả, bà không có ý kiến yêu cầu gì trong vụ án này.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Cầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Ngày 13/12/2019, tại quán cà phê Thanh Tuyền thuộc ấp T, xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, Lê Văn G đã mượn xe mô tô biển số 86B3-316.10 trị giá 4.040.000 đồng của anh Đặng Xuân H sau đó đem cầm cố lấy tiền đánh bạc, không có khả năng trả lại tài sản. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã thành niên nhưng lười lao động, sau khi nhận được tài sản của bị hại, bị cáo đã nảy sinh ý định và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản để có tiền để đánh bạc. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại đã nhận tiền bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ bị cáo là người người nghiện ma túy và có nhiều tiền sự thể hiện sự thiếu ý thức chấp hành pháp luật, bị cáo còn thường xuyên đi qua Campuchia để đánh bạc trong khi không có công việc cụ thể ổn định rất dễ phát sinh hành vi vi phạm, do đó xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian, để cải tạo giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, biết chấp hành pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận bị hại đã nhận xong số tiền bồi thường 6.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Ghi nhận bà G không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 6.000.000 đồng.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn G phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 175; Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn G 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/02/2020.

2. Trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận: Anh Đặng Xuân H đã nhận số tiền bồi thường 6.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thêm; Bà Nguyễn Thị G không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 6.000.000 đồng.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án bị cáo Lê Văn G phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo, bà G được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ