vanban.org

Bản án 11/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 20/01/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/01/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn K, sửa bản án sơ thẩm;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh Tây Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K, Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn K, sửa bản án sơ thẩm;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2020/HS-PT
Ngày: 20-01-2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Dương Liêm.

Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Ngầu;

Bà Trương Thị Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Song Tố Như - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 203/2019/TLPT-HS ngày 24 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn K do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2019/HS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn K, sinh năm 1969, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Tổ Y, ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Trần Thị Li (đã chết); có vợ tên Nguyễn Thị L, sinh năm 1969, con có 02 người, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra còn có những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo nên Tòa án không triệu tập

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 05 phút ngày 16-02-2019, bị cáo Nguyễn Văn K điều khiển xe ô tô biển số 70B-020.59 lưu thông trên đường tỉnh lộ 784 hướng đi từ xã M về xã C thuộc huyện D, tỉnh Tây Ninh. Khi đến khu vực ấp A, xã M, huyện D, tỉnh Tây Ninh, bị cáo điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 60K6-0076 do anh Trần Văn N, sinh năm 1976 ngụ khu phố 11A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai điều khiển chở anh Nguyễn Văn T ngồi phía sau lưu thông theo chiều ngược lại. Tai nạn xảy ra làm anh N tử vong, anh T bị thương tích nhẹ.

Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 244/KL-KTHS ngày 20-02-2019 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Nguyên nhân chết của anh Trần Văn N là do đa chấn thương nặng.

Tại Kết luận giám định số 230/KL-KTHS ngày 22-02-2019 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu máu ghi thu của Trần Văn N có nồng độ cồn trong máu là 189,631mg/100 ml máu; mẫu máu ghi thu của Nguyễn Văn K không có nồng độ cồn trong máu.

Bị cáo Nguyễn Văn K và đại diện Công ty TNHH MTV Đ Tây Ninh đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình anh Trần Văn N tổng số tiền 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2019/HS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh tuyên xử:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về các biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24 tháng 10 năm 2019, bị cáo Nguyễn Văn K kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu: Về tố tụng, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Về nội dung, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có thể tự lao động, cải tạo, giáo dục tại địa phương nên căn cứ quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, sửa án sơ thẩm.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài kiệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn K thấy rằng: Vào khoảng 12 giờ 05 phút ngày 16-02-2019, K điều khiển xe ô tô biển số 70B-020.59 lưu thông trên đường tỉnh lộ 784 hướng đi từ xã M về xã C thuộc huyện D, tỉnh Tây Ninh. Do bị cáo điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 60K6-0076 do anh Trần Văn N chở anh Nguyễn Văn T, hậu quả làm anh Trần Văn N bị đa chấn thương nặng, tử vong tại chỗ, anh Thiệu bị thương tích nhẹ. Hành vi của bị cáo Phước bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ và gây hậu quả chết người. Do vậy cần xử lý nghiêm bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, như bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có cha tên Nguyễn Văn T và mẹ Trần Thị L đều là Liệt sĩ. Ngoài ra, bị cáo có bà ngoại tên Huỳnh Thị K là Bà mẹ Việt Nam anh hùng, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù là phù hợp, không nặng. Tuy nhiên, xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, đại diện của bị hại đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Do đó, đối chiếu quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, xét hành vi của bị cáo có thể tự lao động, cải tạo, giáo dục tại địa phương nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, sửa án sơ thẩm.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn K được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn K, sửa bản án sơ thẩm;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh Tây Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Nguyễn Văn K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ