vanban.org

Bản án 11/2020/HNST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Phúc H đối với anh Phan Văn Châu T.

Chị Trần Phúc H được ly hôn với anh Phan Văn Châu T. Ghi nhận việc chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Trần Phúc H - Phan Văn Châu T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Phúc H đối với anh Phan Văn Châu T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:11/2020/HNST
Ngày: 12/3/2020
V/v:" Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Ngọc Diễm

2. Ông Trần Văn Tùng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thuý - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Phấn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành - Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 715/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2019 về việc: “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXX-ST ngày 13 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Trần Phúc H, sinh năm 1987 (Có mặt).

Nơi cư trú : ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre.

* Bị đơn: Anh Phan Văn Châu T, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp D, xã E, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2019, bản tự khai, những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Phúc H trình bày:

Chị H và anh T kết hôn với nhau vào năm 2015, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2015. Sau khi cưới vợ chồng chị H anh T chung sống hạnh phúc thời gian đầu. Đến đầu năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên cãi vả nhau về tiền bạc. Vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau. Vợ chồng đã ly thân từ tháng đầu năm 2019 đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh T.

Về con chung: Có một con chung tên Phan Trần Phước Nguyên E, sinh ngày 20/11/2017 hiện đang sống với chị H. Sau khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản làm việc của Toà án ngày 17/01/2020, bị đơn anh Phan Văn Châu T trình bày: Anh T và chị H kết hôn với nhau năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B. Vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, đến năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2018 đến nay. Cha mẹ hai bên đều biết có khuyên vợ chồng hàn gắn nhưng H cương quyết ly hôn. Anh T đồng ý ly hôn chị H. Về tài sản chung, nợ chung: không có. Về con chung: sau ly hôn, anh T đồng ý để chị H nuôi con chung là Phan Trần Phước Nguyên E sinh ngày 20/11/2017.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành có quan điểm:

Về người tham gia tố tụng: Tòa án xác định đúng người tham gia tố tụng.

Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh T. Sau ly hôn, chị H được quyền nuôi con chung là Phan Trần Phước Nguyên E sinh ngày 20/11/2017. Ghi nhận việc chị H không yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng. Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Phan Văn Châu T được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ 2 để dự phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh T là phù hợp với Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn với nhau vào năm 2015 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2015 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Theo như chị H, anh T trình bày, quá trình chung sống vợ chồng chị H anh T sống hạnh phúc đến năm 2018. Cuối năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do chị H, anh T bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vợ chồng chị H anh T đã ly thân từ đầu năm 2019 đến nay.

Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào Biên bản làm việc xác minh ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện C đối với ông Phan Văn T là cha ruột của anh Phan Văn Châu T cũng như người dân tại địa phương nơi chị H anh T sinh sống đã xác nhận vợ chồng chị H anh T đã có xảy ra mâu thuẫn từ khoảng năm 2018, chị H đã về nhà cha mẹ ruột chị H tại xã B huyện C sinh sống từ đầu năm 2019 đến nay. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H anh T đã thật sự mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của chị H anh T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp Điều 56 Luật HNGĐ.

Về con chung: Có một con chung tên Phan Trần Phước Nguyên E sinh ngày 20/11/2017. Sau khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy hiện nay cháu E hiện còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, đang được chị H nuôi dưỡng. Cháu E cần được sự chăm sóc trực tiếp từ người mẹ. Để đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu E cần để cho chị H được nuôi con chung là phù hợp. Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Các Điều 147, 227, 232, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Tuyên:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Phúc H đối với anh Phan Văn Châu T.

Chị Trần Phúc H được ly hôn với anh Phan Văn Châu T.

Ghi nhận việc chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng.

2. Về con chung: Sau ly hôn, chị H được nuôi con chung tên Phan Trần Phước Nguyên E, sinh ngày 20/11/2017. Ghi nhận việc chị H không yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên vì quyền và lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét..

4. Về án phí:

Án phí HNST: Chị H phải nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng). Số tiền án phí trên được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà chị H đã nộp theo biên lai thu số 0007255 ngày 05/12/2019 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C tỉnh Bến Tre. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Chị H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15(Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T được quyền kháng cáo trong hạn 15(Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ