- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 15, 16, 53, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban …
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 11/2020/HNGĐ-ST Ngày: 24 / 6 /2020 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Ngọc Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Chau Cương.
2. Bà Nguyễn Thị Minh Chuyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Trung - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Neàng Sa Men, Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 75/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Phạm Thanh T, sinh năm 1977, địa chỉ: Tổ 10, ấp M, xã Núi V, huyện Tịnh B, tỉnh An Giang, có mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978, địa chỉ: Tổ 10, ấp M, xã Núi V, huyện Tịnh B, tỉnh An Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 12 tháng 3 năm 2019, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Phạm Thanh T trình bày: Về hôn nhân: Ông và bà H chung sống với nhau từ năm 1996, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 3/2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do thường xuyên cãi vã, tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm. Ông và bà H đã sống ly thân từ tháng 3/2018 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung nên ông T yêu cầu ly hôn với bà H. Về con chung: Ông và bà H có 03 người con chung tên Phạm Thị N, sinh năm 1997, Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 19/01/2006 và Phạm Thị Anh T, sinh ngày 07/01/2012 hiện do ông T và bà H đang nuôi dạy. Ông T yêu cầu được nuôi dạy cháu B, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Ông T đồng ý giao bà H tiếp tục nuôi dạy cháu T, ông không cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu N đã trưởng thành nên ông T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Ông và bà H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Tại bản tự khai, biên bản hòa giải bị đơn là bà Nguyễn Thị H trình bày: Về hôn nhân: Bà và ông T chung sống với nhau từ năm 1996, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 3/2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Bà và ông T đã sống ly thân từ tháng 3/2018 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung nên ông T yêu cầu ly hôn thì bà cũng đồng ý ly hôn. Về con chung: Bà và ông T có 03 người con chung tên Phạm Thị N, sinh năm 1997, Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 19/01/2006 và Phạm Thị Anh T, sinh ngày 07/01/2012 hiện do bà và ông T đang nuôi dạy. Bà H yêu cầu được nuôi dạy cháu T, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Bà H đồng ý giao ông T tiếp tục nuôi dạy cháu B, bà không cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu N đã trưởng thành nên bà H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Bà và ông T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Tòa án đã tổ chức hòa giải giữa các đương sự về con chung, tài sản chung và nợ chung. Tại phiên tòa ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ đúng quy định pháp luật. Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định tố tụng tại phiên toà.
- Về việc chấp hành pháp luật: Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà.
- Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Ông T và bà H chung sống với nhau từ năm 1996 đến nay không có đăng ký kết hôn là vi phạm quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.
Về con chung: Ông T và bà H cùng thống nhất có 03 người con chung tên Phạm Thị N, sinh năm 1997, Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 19/01/2006 và Phạm Thị Anh T, sinh ngày 07/01/2012. Ông T nuôi dạy cháu B, bà H nuôi dạy cháu T, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu N đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Ông T và bà H thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Từ cơ sở trên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà H là vợ chồng, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về con chung, về tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn khởi kiện tại Tòa án và đã nộp tạm ứng án phí nên Tòa án thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Bà H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bà H theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Ông T và bà H tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996, không có đăng ký kết hôn. Theo lời khai của ông T thì mâu thuẫn phát sinh trong quá trình chung sống là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, tính tình không hợp nhau. Bà H cho rằng ông T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Ông T và bà H đã sống ly thân từ tháng 3/2018 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, ông T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà H và bà H cũng đồng ý ly hôn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng. Do đó, ông T và bà H tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996 đến nay không đăng ký kết hôn nên quan hệ của ông T và bà H không được công nhận là vợ chồng. Về con chung: Ông T và bà H có 03 người con chung tên Phạm Thị N, sinh năm 1997, Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 19/01/2006 và Phạm Thị Anh T, sinh ngày 07/01/2012. Ông T và bà H cùng thống nhất ông T nuôi dạy cháu B, bà H nuôi dạy cháu T, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu B có nguyện vọng được sống cùng với ông T. Cháu T có nguyện vọng được sống cùng với bà H. Đây là sự thoả thuận tự nguyện không trái pháp luật nên được công nhận. Đối với cháu N đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Ông T và bà H thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về nợ chung: Ông T và bà H cùng thống nhất khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [3] Về án phí: Ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 15, 16, 53, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa ông Phạm Thanh T và bà Nguyễn Thị H là vợ chồng.
2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Phạm Thanh T và bà Nguyễn Thị H.
Ông Phạm Thanh T được nuôi dạy cháu Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 19/01/2006. Bà Nguyễn Thị H được nuôi dạy cháu Phạm Thị Anh T, sinh ngày 07/01/2012. Ông Phạm Thanh T, bà Nguyễn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Phạm Thanh T và bà Nguyễn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 Ba trăm ngàn đồng nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 Ba trăm ngàn đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2016/0014621 ngày 12 tháng 3 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên. Bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Thời hạn kháng cáo của đương sự vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện KSND huyện Tịnh Biên; - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - Chi cục THADS huyện Tịnh Biên; - UBND xã Núi Voi; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Văn phòng. | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Lƣơng Ngọc Dũng |