- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Trần Thế H xin ly hôn chị Hà Thị H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2020/HNGĐ-ST Ngày 15 tháng 6 năm 2020 “V/v: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Lực
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết
Ông Nguyễn Trung Thành
- Thư ký phiên toà: Bà KH Thị Phượng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên tòa: Ông Ngô Trường Út – Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2020, về việc tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Thế H, sinh năm 1976 Nơi cư trú: Tổ dân phố Hòa Bình, thị trấn Hoa Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt;
Bị đơn: Chị Hà Thị H, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Tổ dân phố Hòa Bình, thị trấn Hoa Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 23/4/2020 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là anh Trần Thế H trình bày:
Anh và chị H kết hôn ngày 10/6/1998, trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Liễn Sơn. Sau khi kết hôn, chị H về chung sống và làm ăn cùng gia đình anh. Quá trình vợ chồng chung sống đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi, chửi nhau, nên chị H bỏ về nhà bố, mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay anh xác định vợ chồng không còn tình cảm, nên xin được ly hôn chị H.
Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là Trần Thu Hà, sinh năm 1998 và Trần Mỹ Hạnh, sinh năm 2000, hiện các con đều đã trưởng thành và có thể lao động tự túc được nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn là chị Hà Thị H vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trong bản tự khai và đơn đề nghị giải quyết vắng mặt ngày 08/5/2020, chị H trình bày.
Chị cũng xác định về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống và nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn như anh H trình bày là đúng. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh H xin ly hôn chị hoàn toàn nhất trí.
Về con chung: Chị xác định như anh H trình bày là đúng và chị cũng không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến giai đoạn Hội đồng xét xử, nghị án đã thực hiện đầy đủ, trình tự đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử cho anh H và chị H được ly hôn; về con chung, tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức do chị H và anh H không đề nghị giải quyết nên không xem xét; về án phí, anh H phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện của anh Trần Thế H và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Xác định đây là quan hệ tranh chấp Hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn ….”. Bị đơn là chị Hà Thị H có địa chỉ tại thị trấn Hoa Sơn, huyện Lập Thạch nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Lập Thạch theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Cuộc hôn nhân giữa anh Trần Thế H và chị Hà Thị H là cuộc hôn nhân hợp pháp, xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi, chửi nhau nên chị H chán nản và bỏ về nhà bố, mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ cho đến nay. Nay anh H và chị H cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên cùng xin được ly hôn, xét đề nghị của anh H và chị H là tự nguyện không trái quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về con chung, tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Anh H và chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Trần Thế H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Cho anh Trần Thế H và chị Hà Thị H được ly hôn.
Về con chung, tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Anh H và chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Trần Thế H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số: 0007689 ngày 27/4/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lập Thạch. Anh H đã nộp đủ án phí.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án anh H có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Chị H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao nhận bản án hoặc niêm yết tại UBND nơi cư trú của người vắng mặt.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lập Thạch; - Chi cục THADS Lập Thạch; - UBND thị trấn Hoa Sơn; - Đương sự; -Lưu: Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Hữu Lực |