- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp dân sự"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HU N H MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 11 /2020/HNGĐ-ST. Ngày: 17-3-2020. V/v tranh chấp dân sự- Hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thế chấp tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚ ỘNG HÒA XÃ HỘI HỦ NGHĨA VI T NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HU N H MỚI T NH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Tr n Thanh B nh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. ng Tôn Phước Thuận
2. ng Nguyễn Văn Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thi, là thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch M i, t nh An Giang: không tham gia phiên toà
Ngày 17 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp dân sự “Hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2020/QĐXX-ST ngày 03 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Xuân T, sinh năm 1964; nơi cư trú: ấp T 2, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang;
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ng Bùi Quốc N, sinh năm 1981; nơi cư trú: số 423, ấp MH, thị trấn ML, huyện CM, tỉnh An Giang; là người đại diện ủy quyền của nguyên đơn; có mặt
2. Bị đơn:
2.1. ng Huỳnh Thanh S, sinh năm 1966; nơi cư trú: ấp NN, xã NM, huyện CM, tỉnh An Giang; vắng mặt
2.2. Bà Lâm Thị Thúy N, sinh năm 1968; nơi cư trú: ấp Nhơn Ngài, xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá tr nh tố tụng, người đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Bùi Quốc N tr nh bày: Giữa bà T, ông S, bà N là chỗ quen biết, ông S, bà N có đến nhà bà T để vay tiền cụ thể như sau:
L n thứ nhất: ngày 15/8/2014 do quen biết bà N, ông S có đến nhà bà T để vay số tiền 300 000 000đ (ba trăm triệu đồng), có làm biên nhận nợ
L n thứ hai: ngày 28/8/2014, ông S, bà N tiếp tục đến nhà bà T vay thêm số tiền 20 000 000đ hai mươi triệu đồng) có làm biên nhận nợ
Cả hai l n vay không có thỏa thuận thời gian trả, khi nào bà T c n lại tiền th bà N, ông S sẽ trả số tiền đã vay lại cho bà T Khi vay hai bên thỏa thuận lãi suất 2%/tháng Đến tháng 6/2017, do bà T c n tiền để lo cho gia đ nh nên có liên hệ bà N, ông S để đòi lại số tiền vay 320 000 000 đồng, nhưng bà N, ông S không trả tiền lại cho bà T.
Bà T có giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04533 QSDĐ/eb do Ủy ban nhân dân huyện CM cấp cho ông Huỳnh Thanh S ngày 25/9/2001 và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hồ sơ gốc số 195/No do Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới cấp cho ông Huỳnh Thanh S, bà Lâm Thị Thúy N ngày 18 tháng 7 năm 2006 để làm tin Nay bà T yêu c u bà N, ông S liên đới trả cho bà T số tiền vốn 320 000 000 đồng và yêu c u tính lãi theo quy định pháp luật từ tháng 9/2014 đến ngày xét xử sơ thẩm, bà T đồng ý trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho ông S, bà N.
Từ khi vay đến nay bà N, ông S có đóng lãi cho bà T với tổng cộng số tiền 98 700 000 đồng (số tiền lãi này bà N, ông S đóng lãi từ 9/2014 đến tháng 11/2019) Bà T đồng ý khấu trừ tiền lãi theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn tr nh bày sau khi Tòa án hòa giải phía bị đơn có đóng lãi thêm với số tiền 2 000 000đ
Bị đơn bà Lâm Thị Thúy N tr nh bày: Tôi không nhớ chính xác ngày, tháng năm vay tiền của bà T Nhưng tôi thừa nhận có vay của bà T số tiền 320 000 000 đồng, số tiền 320 000 000 đồng tôi vay của bà T hai l n: l n một bà vay bà T 300 000 000 đồng, sau đó vay thêm 20 000 000 đồng, khi vay tiền có làm biên nhận, chữ ký trong hai biên nhận bà T cung cấp cho Tòa án là chữ ký của bà và ông S, vay tiền là để làm ruộng và đóng lãi ngân hàng Để tạo lòng tin bà và ông S có đưa bà T có giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04533 QSDĐ/eb do Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới cấp cho ông Huỳnh Thanh S ngày 25/9/2001 và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hồ sơ gốc số 195/No do Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới cấp cho ông Huỳnh Thanh S, bà Lâm Thị Thúy N ngày 18 tháng 7 năm 2006 để làm tin
Khi vay tiền có thỏa thuận lãi suất nhưng nhớ lãi suất bao nhiêu, bà có đóng tiền lãi cho bà T nhưng số tiền cụ thể bao nhiêu bà không nhớ và cũng không có ý kiến g về số tiền lãi này, đóng lãi không có làm giấy tờ và cũng không có ai chứng kiến Khi vay tiền không có thỏa thuận thời gian trả cụ thể nhưng khi làm ăn được th sẽ gửi trả tiền gốc lại cho bà T Bà T là người trực tiếp giao tiền cho bà, ông S cả hai l n vay Nay bà T yêu c u bà và ông S liên đới trả cho bà T số tiền 320 000 000 đồng, do hoàn cảnh khó khăn còn nợ ngân hàng nên xin bà T cho bà, ông S năm 2021 sẽ trả tiền gốc đã vay của bà T Từ khi vay đến nay bà và ông S chưa trả được cho bà T tiền gốc đã vay của bà T.
Khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án tôi đều thông báo cho ông S biết thời gian Tòa án mời làm việc nhưng do ông S bận đi làm ăn không về được.
Bị đơn ông Huỳnh Thanh S đã được tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Thanh không gửi văn bản ghi ý kiến và vắng mặt trong suốt quá tr nh Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá tr nh giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Ngày 15/8/2014, bà Lâm Thị Xuân T có cho ông Huỳnh Thanh S, bà Lâm Thị Thúy N vay 300 000 000 đồng Đến ngày 28/8/2014, ông S, bà N tiếp tục vay thêm 20 000 000 đồng Khi vay có làm biên nhận và thỏa thuận lãi suất 2%/tháng, không thỏa thuận thời gian trả và bà T có giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04533/eB do UBND huyện Chợ Mới cấp cho ông S ngày 25/9/2001 và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 195/NO do UBND huyện Chợ Mới cấp cho ông S, bà N liên đới trả 320 000 000 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật kể từ tháng 9/2014 đến khi xét xử sơ thẩm, đồng ý trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho ông S, bà N Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền nguyên đơn đồng ý điều chỉnh số lãi đã nhận với tổng số tiền 100 700 000 đồng
Bà N thừa nhận có vay của bà T 02 l n, tổng cộng 320 000 000 đồng, khi vay tiền có làm biên nhận, ông S, bà N có ký tên vào biên nhận Bà N, ông S có đưa bà T giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04533/eB do UBND huyện Chợ Mới cấp cho ông S ngày 25/9/2001 và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 195/NO do UBND huyện Chợ Mới cấp cho ông S, bà N để làm tin Tại phiên tòa, bà N thống nhất số vốn, lãi còn nợ nhưng do hoàn cảnh khó khăn chưa có khả năng trả Phía ông Huỳnh Thanh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do và không gửi văn bản ý kiến
Xét thấy, hợp đồng vay tài sản giữa bà T với ông S, bà N được xác lập trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận và được lập thành văn bản có chứ ký của ông S, bà N nên căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 công nhận hợp đồng vay tài sản giữa bà T với ông S, bà N Do ông S, bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà T khởi kiện yêu c u ông S, bà N trả 320 000 000 đồng là có căn cứ
Về lãi suất, bà T yêu c u tính lãi suất theo quy định pháp luật kể từ tháng 9/2014 đến khi xét xử sơ thẩm Xét thấy, do phía ông S, bà N chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T nên bà T yêu c u tính lãi suất từ tháng 9/2014 đến khi xét xử sơ thẩm là có căn cứ Tuy nhiên, các đương sự thỏa thuận lãi suất 2%/tháng là cao so với quy định của pháp luật nên c n điều chỉnh số tiền lãi 100 700 000 đồng theo quy định tại Điều 468 Bộ luật tố tụng dân sự
Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04533/eB do UBND huyện Chợ Mới cấp cho ông S ngày 25/9/2001 và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 195/NO do UBND huyện Chợ Mới cấp cho ông S, bà N ngày 18/7/2006, việc thế chấp giữa hai bên không tuân thủ việc đăng ký thế chấp theo quy định nên c n tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất vô hiệu và buộc bà T giao trả ông S, bà N giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04533/eB do UBND huyện Chợ Mới cấp cho ông S ngày 25/9/2001 và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 195/NO ngày 18/7/2006
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, đề nghị:
Chấp nhận yêu c u khởi kiện của bà Lâm Thị Xuân T
Buộc ông Huỳnh Thanh S và bà Lâm Thị Thúy N trả cho bà Lâm Thị Xuân T 320 000 000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật kể từ tháng 9/2014 đến ngày xét xử sơ thẩm
Điều chỉnh mức lãi suất đối với số tiền lãi 100 700 000 đồng
Tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa bà Lâm Thị Xuân T và ông Huỳnh Thanh S, bà Lâm Thị Thúy N vô hiệu
Buộc Lâm Thị Xuân T giao trả ông Huỳnh Thanh S và bà Lâm Thị Thúy N giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04533/eB do UBND huyện Chợ Mới cấp cho ông S ngày 25/9/2001 và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 195/NO do UBND huyện Chợ Mới cấp cho ông S, bà N ngày 18/7/2006.
NHẬN ĐỊNH ỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn ông S, bà N yêu c u trả nợ vay và trả lãi theo quy định pháp luật cho đến khi xét xử đây là tranh chấp dân sự hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Bị đơn có nơi cư trú tại xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định Điều 26; 35; 39 của Bộ luật tố tụng dân sự
ng Huỳnh Thanh S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến l n thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông vẫn vắng mặt Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét vắng mặt đối với ông ông Huỳnh Thanh S.
[2].Về nội dung
[2.1].Về hợp đồng vay tài sản: Giữa bà Lâm Thị Xuân T, bà Lâm Thị Thúy N có xác lập hợp đồng vay tài sản, chứng cứ bà T cung cấp cho Tòa án là biên nhận nợ (ngày vay đ u tiên là ngày 15/8/2014 và ngày cuối cùng là 24/8/2014), vay không thỏa thuận thời hạn, lãi suất các bên thống nhất là 2%/tháng; ông S, bà N có ký tên vào biên nhận nợ, tổng số tiền vay 320 000 000 đồng Hợp đồng này được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không bị lừa dối hay ép buộc nên đây là hợp đồng hợp pháp
Trong quá tr nh thực hiện hợp đồng, do nhiều l n bà T yêu c u ông S, bà N trả tiền nhưng ông S, bà N không trả nên bà T khởi kiện yêu c u ông S, bà N có nghĩa vụ trả số tiền 320 000 000đ là phù hợp Điều 305, 474 Bộ luật dân sự năm 2005.
[2.2]. Đối với yêu cầu tính lãi: bà T yêu c u tính lãi đối với số tiền 320.000.000 đồng theo quy định pháp luật từ 9/2014 đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm. Xét thấy, hợp đồng vay này là hợp đồng không có kỳ hạn, ngày bắt đ u cho vay là ngày 15/8/2014, lãi suất thỏa thuận 2%/tháng, quá tr nh thực hiện hợp đồng bà T và bà N đều xác định ông S bà N có đóng lãi được nhiều l n đến khoảng tháng 11/2019 với số tiền tổng cộng là 100 700 000đ Xét thấy mức lãi suất hai bên thỏa thuận 2%/tháng là cao hơn quy định tại tại thời điểm xác lập hợp đồng vay nên Hội đồng xét xử điều chỉnh cho phù hợp, tiền lãi được tính như sau:
Tiền lãi theo quy định pháp luật từ tháng 9/2014 đến tháng 6/2017:
320.000.000 đồng x 2 năm 9 tháng 29 ngày x 9%/năm = 81.600.000đ.
Tiền lãi theo quy định pháp luật từ tháng 7/2017 đến tháng 11/2019:
320 000 000 đồng x 2 năm 4 tháng 29 ngày x 20%/năm = 154 667 000đ.
Số tiền lãi theo quy định pháp luật là: 154.667 000 đồng + 81.600.000 đồng = 236.267.000đồng
Số tiền lãi ông S, bà N phải đóng thêm tháng 9/2014 đến tháng 11/2019: 236 267 000 đồng – 100 700 000 đồng = 135 567 000 đồng
Tiền lãi theo quy định pháp luật từ tháng 12/2019 đến tháng 17/3/2019 là:
320 000 000 đồng x 3 tháng 16 ngày x20%/năm= 21.333 000 đồng
Số tiền lãi bà N, ông S phải trả cho bà T: 135 567 000 đồng + 21.333.000 đồng = 156.900 000 đồng
Tổng cộng tiền gốc và lãi: 320 000 000 đồng+ 156.900 000 đồng= 476.900 000 đồng
Từ những cơ sở phân tích trên, Hội đồng xét xử buộc ông S, bà N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà T 320.000 000 đồng tiền vốn gốc và 156.900 000 đồng tiền lãi là phù hợp Điều 474, 476 Bộ luật dân sự năm 2005
[2.3]. Về hợp đồng thế chấp tài sản: hợp đồng thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04533 QSDĐ/eb do Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới cấp cho ông Huỳnh Thanh S ngày 25/9/2001 và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hồ sơ gốc số 195/No do Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới cấp cho ông Huỳnh Thanh S, bà Lâm Thị Thúy N ngày 18 tháng 7 năm 2006, theo như lời tr nh bày nguyên đơn và bị đơn th khi vay bị đơn có giao cho nguyên đơn giữ giấy chứng nhận bản chính để làm tin chứ các bên không có xác lập hợp đồng thế chấp theo quy định pháp luật, phía nguyên đơn tự nguyện trả bản chính quyền sử dụng đất số 04533 QSDĐ/eb do Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới cấp cho ông Huỳnh Thanh S ngày 25/9/2001 và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hồ sơ gốc số 195/No do Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới cấp cho ông Huỳnh Thanh S, bà Lâm Thị Thúy N ngày 18 tháng 7 năm 2006 Sự tự nguyện này của bà T không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà T. Do các bên không tranh chấp đối với việc thế chấp này nên hội đồng xét xử không xem xét đến
[2.4.]Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Huỳnh Thanh S, bà Lâm Thị Thúy N phải liên đới chịu án phí theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên,
QU ẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 298, 305, 474, 476 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 468, Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 27 Luật hôn nhân gia đ nh năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Công nhận hợp đồng vay tài sản giữa bà Lâm Thị Xuân T với ông Huỳnh Thanh S, bà Huỳnh Thị Thúy N.
Chấp nhận yêu c u khởi kiện của bà Lâm Thị Xuân T.
Buộc ông Huỳnh Thanh S, bà Huỳnh Thị Thúy N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lâm Thị Xuân T số tiền vốn 320.000.000đ (ba trăm hai mươi triệu đồng) và số tiền lãi 156.900 000đ (một trăm năm mươi sáu triệu chín trăm ngh n đồng). Tổng cộng: 476.900 000 đồng đồng (bốn trăm bảy mươi sáu triệu chín trăm ngh n đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu c u thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 bộ luật Dân sự năm 2015
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lâm Thị Xuân T giao trả bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 04533 QSDĐ/eb do Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới cấp cho ông Huỳnh Thanh S ngày 25/9/2001 và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hồ sơ gốc số 195/No do Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới cấp cho ông Huỳnh Thanh S, bà Lâm Thị Thúy N ngày 18 tháng 7 năm 2006
Án phí dân sự sơ thẩm:
ng Huỳnh Thanh S, bà Lâm Thị Thúy N phải liên đới chịu 23.076.000 (hai mươi ba triệu không trăm bảy mươi sáu ngh n) đồng
Bà Lâm Thị Xuân T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 8.000.000 (tám triệu) đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007805 ngày 02/01/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng th thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS huyện Chợ Mới; - VKSND huyện Chợ Mới; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - HỦ TỌA PHIÊN TÒA Tr n Thanh B nh |