vanban.org

Bản án 11/2020/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 15/01/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/01/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm số 148/2019/DS-ST ngày 30/8/2019 của T a án nh n d n huyện C, tỉnh T.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M. Công nhận phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 110,8 m2 thuộc một phần thửa đất số 281, tờ bản đồ số HKC3, diện tích 934 m2, địa chỉ thửa đất tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu số 104479/2160, ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Thị M, Nguyễn Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm số 148/2019/DS-ST ngày 30/8/2019 của T a án nh n d n huyện C, tỉnh T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 100 Luật Đất đai; Điều 147 Bộ luật tố tụng d n sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2020/DS-PT
Ngày: 15/01/2020.
V/v tranh chấp “Quyền sử
dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu;

Các Thẩm phán: Ông Mai Hoàng Khải.

Bà Trần Thị Kim Em.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đ ng Thị Thanh Trinh, Th

T a án nh n d n tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:-Ông Võ Trung Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở T a án nh n d n tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công hai vụ án d n sự thụ l số 311/2019/TLPT-DS ngày 03/12/2019 về việc tranh chấp: “Quyền sử dụng đất”.

Do bản án d n sự sơ thẩm số 148/2019/DS-ST ngày 30/8/2019 của T a án nh n d n huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang bị háng cáo.

Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 386/2019/QĐ-PT ngày 05/12/2019 giữa các đ ơng sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị M, sinh năm 1966 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T.

Đại diện theo ủy quyền: Bùi Quang N, sinh năm 1956 (có mặt).

Địa chỉ: Số A, khu 4, thị trấn C, huyện C, tỉnh T.

Bị đơn: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T.

Đại diện theo ủy quyền của ông Đ có chị Nguyễn Thùy D, sinh năm 1987. Địa

chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T (có mặt).

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Trong hộ nguyên đơn:

- Tr ơng Văn S, sinh năm 1966 (có đơn vắng mặt).

- Tr ơng Thị Ngọc H, sinh năm 1988 (có đơn vắng mặt).

- Tr ơng Thanh P, sinh năm 2001 (có đơn vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T.

+ Trong hộ bị đơn:

- Văn Thị N, sinh năm 1961 (có mặt).

- Nguyễn Tấn K, sinh năm 1986 (vắng mặt).

- Nguyễn Thùy D, sinh năm 1987 (có mặt).

- Nguyễn Thanh V, sinh năm 1992 (vắng mặt).

- Nguyễn Ngọc T ờng V, sinh năm 2012.

Đại diện theo pháp luật của cháu V có chị Nguyễn Thùy D, sinh năm 1987 (có

mặt). Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T.

*Ng ời háng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M và người đại diện hợp pháp của bà M là ông Bùi Quang N trình bày:

Cha bà M là ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1922, chết năm 1965, mẹ bà tên Huỳnh Thị L, sinh năm 1927, chết năm 2013. Lúc sinh thời cha mẹ bà có tạo lập đ ợc khoảng 25.000 m2 đất, Cha mẹ bà cho cậu tên Huỳnh Văn D 6.000 m2, cho anh Nguyễn Văn Đ 8.000 m2, Nguyễn Văn Đ 6.000 m2 Nguyễn Thị B 2.000 m2, Nguyễn Thi T 2.000 m2, c n lại 1.000 m2 theo đo đạc thực tế là 934 m2. Sau khi cha bà chết bà sống với mẹ là cụ L đến năm 1986 cụ L cho bà một phần đất khoảng 300 m2, thuộc một phần thửa đất có diện tích 934 m2 bà cất nhà để ở, sau đó bà có gia đình bà và chồng bà và hai con vẫn ở trên phần đất này từ năm 1986 đến nay, nh ng do mẹ con và bà hông biết về thủ tục cấp giấy đất nên hông đi đăng hoặc làm thủ tục xin công nhận quyền sử dụng đất.

Đến năm 2012 bà cất nhà iên cố lúc này cụ L c n sống, nh ng hông ai tranh cản, đến khoảng một năm sau cụ L chết, bà có yêu cầu đ ợc làm thủ tục sang tên chuyển quyền phần đất bà cất nhà ở, thì đ ợc biết ông Đ đã ê hai toàn bộ thửa đất này, nên bà yêu cầu cơ quan cấp giấy ng ng việc cấp giấy đất cho ông Đ. Nay bà yêu cầu ông Đ lập thủ tục sang tên chuyển quyền phần đất mà cụ L đã cho bà từ năm 1986 mà bà đã cất nhà ở từ năm 1986 đến nay theo do đạc thực tế là 110, 8 m2 thuộc một phần thửa đất số 281, tờ bản đồ số HKC3, thửa đất có địa chỉ tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Nguồn gốc thửa đất có căn nhà bà M đang ở là của cha mẹ ông để lại, nh ng sau hi cha ông chết, mẹ ông là bà L đã cho ông thửa đất này và ông đã đăng ê hai đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1999. Nay đang lập thủ tục cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng thì bà M có đơn ngăn chặn gửi cơ quan cấp giấy đất, nên đến nay ch a cấp giấy đất.

Nay ông hông đồng với yêu cầu khởi kiện của bà M, ông xác định thửa đất này là của ông, ông cho bà M ở nhờ, nếu bà M hông ở nữa thì trả đất lại cho ông, ông hông đồng lập thủ tục sang tên chuyển quyền cho bà M.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Tr ơng Văn S, Tr ơng Thị Ngọc H và Tr ơng Thanh P có đơn xin vắng mặt và có iến giống iến bà M.

- Văn Thị N, Nguyễn Thùy D có mặt, Nguyễn Tấn K, Nguyễn Thanh V có đơn xin vắng mặt, Nguyễn Ngọc T ờng V do chị D làm giám hộ. Những ng ời này có iến trình bày giống ông Đ.

* Bản án sơ thẩm số: 148/2019/DS-ST ngày 30/8/2019 của T a án nh n d n huyện C, tỉnh T căn cứ: khoản 9, Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng d n sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 227 và hoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng d n sự.

- Căn cứ Điều 688 Bộ luật d n sự 2015.

- Căn cứ Điều 688, 722 và 726 Bộ luật d n sự 2005.

- Căn cứ các Điều 97, 98, 99, 100 và Điều 170 Luật đất đai.

- Căn cứ Điều 18, Điều 21 Nghị định 43/2014/CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M.

Công nhận phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 110,8 m2 thuộc một phần thửa đất số 281, tờ bản đồ số HKC3, diện tích 934 m2, địa chỉ thửa đất tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu số 104479/2160, ngày 21/3/1999 cho ông Nguyễn Văn Đ là thuộc quyền sử dụng của bà M.

- Buộc ông Nguyễn Văn Đ và các thành viên trong hộ gồm: Văn Thị N Nguyễn Tấn K, Nguyễn Thùy D và Nguyễn Thanh V lập thủ tục sang tên chuyển quyền cho bà M phần đất có diện tích nêu trên.

- Nếu bị đơn ông Đ và ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà N, anh K, chị D và anh V hông thực hiện, thì bà M đ ợc quyền đến cơ quan nhà n ớc có thẩm quyền đăng quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Thực hiện sau hi án có hiệu lực pháp luật.

(Có sơ đồ bản vẽ èm theo).

*Ngoài ra, án sơ thẩm c n tuyên về án phí, quyền háng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đ ơng sự theo quy định của pháp luật.

* Ngày 06/9/2019 ông Nguyễn Văn Đ có đơn háng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 148/2019/DS-ST ngày 30/8/2019 của t a án nh n d n huyện C yêu cầu:

+ Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ tách một phần diện tích 110 m2 thuộc thửa đất số 281, tọa lạc tại ấp H, xã H huyện C, tỉnh T sang cho bà M đứng tên quyền sử dụng đất.

Tại phiên t a phúc thẩm, đại diện bị đơn ng ời háng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu, hông chấp nhận chia tách giao cho bà M 110m2 đất thuộc thửa số 281, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

*Đại diện Viện kiểm sát nh n d n tỉnh T xác định: quá trình tố tụng tại phiên t a Thẩm phán đã tu n thủ đúng quy định của pháp luật về tố tụng. Viện kiểm sát hông bổ sung gì thêm. Riêng về nội dung, Viện kiểm sát cho rằng quyết định tại bản án sơ thẩm là có căn cứ. Nguồn gốc đất đai là của cha mẹ để lại, bà M cùng gia đình đã có nhà ở từ năm 1986, x y lại iên cố vào năm 2012, do hông am hiểu pháp luật nên bà hông đăng xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Riêng ông Đ năm 1999 tự đi đăng và đ ợc cấp giấy chứng nhận, thủ tục để đ ợc công nhận quyền sử dụng đất của ông Đ hông phù hợp pháp luật. Ông Đ háng cáo nh ng hông có cơ sở chứng minh nên đề nghị hông chấp nhận yêu cầu của ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đ ợc thẩm tra, căn cứ và ết quả tranh luận tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Theo đơn hởi iện cũng nh lời trình bày của nguyên đơn T a án nh n d n huyện C thụ l giải quyết vụ án với quan hệ tranh chấp quyền sử dụng đất là phù hợp với quy định của pháp luật.

Sau khi tuyên án ngày 30/8/2019, hông đồng với ết quả án sơ thẩm ngày 06/9/2019 ông Đ nộp đơn háng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm bác đơn hởi iện của bà M. Kháng cáo là hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Tại phiên t a phúc thẩm những ng ời có liên quan Tr ơng Văn S, Tr ơng Thị Ngọc H, Tr ơng Thanh P có đơn xin vắng mặt. Riêng Nguyễn Tấn K, Nguyễn Thanh V vắng mặt hông l do lần thứ 2, việc vắng mặt này hông ảnh h ởng đến phiên t a phúc thẩm, tại cấp sơ thẩm họ đã có lời hai thể hiện chí của bản th n.

. Về nội dung: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án cho thấy phần đất tranh chấp có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn S và bà Huỳnh Thị L. Diện tích đất tranh chấp 110,8m2 là một phần thửa đất 281, tờ bản đồ HKC3 có tổng diện tích 934m2. Thửa đất này ông Nguyễn Văn Đ ê hai vào năm 1998 và đ ợc cấp quyền sử dụng vào năm 1999. Trên thửa đất bà M có cất 01 ngôi nhà ở từ năm 1986 có diện tích đo đạc thực tế là 110,8m2, theo bà M cha mẹ bà đã cho từ tr ớc nh ng bà hông hiểu biết để đăng hoặc tách quyền sử dụng. Năm 2012 bà M cất lại nhà iên cố khi mẹ bà c n sống, anh chị em hông ai có iến gì. Ông Đ chấp nhận cho bà M ở nh ng hông chấp nhận tách quyền sử dụng đất cho bà.

Xác định ông Đ tự đăng và đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông cho rằng thửa đất cha mẹ cho ông, bà M cũng cho là cha mẹ cho. Tuy nhiên hông ai chứng minh đ ợc việc này. Căn cứ vào thực tế sử dụng đất, nguồn gốc phần đất là của cha mẹ, bà M cất nhà ở từ năm 1986, x y lại iên cố vào năm 2012 khi cụ L c n sống, hông ai có iến hoặc tranh chấp cho thấy có cơ sở nh lời trình bày của là M là mẹ cho đất cất nhà ở. Đối với ông Đ mặc dù đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1999. Tuy nhiên ông hông cung cấp đ ợc cơ sở cho rằng đất do cha mẹ cho, nên việc tự đi đăng và đứng tên là ch a đúng theo quy định về quản l đất đai. Bà M cùng gia đình đã x y nhà ở ổn định, l u dài hông ai tranh chấp, hiện gia đình bà hông c n nơi ở nào hác, ông Đ cũng chấp nhận cho bà ở. Từ đó,T a cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà M là hợp l . Ông Đ háng cáo hông chấp nhận chia tách quyền sử dụng đất cho bà M nh nhận định ở trên yêu cầu háng cáo của ông hông hợp l , hông có cở sở nên hông đ ợc chấp nhận. Mặt hác ông Đ có cung cấp 01 giấy tay cho đất của mẹ là bà L, tuy nhiên đ y là giấy cho đất ruộng thực tế ông Đ cũng đang canh tác thửa đất này và có diện tích là 6.922 m2. Theo nội dung giấy tay nêu trên, thời điểm cho đ ợc xác định từ năm 1982. Riêng phần đất có liên quan đến tranh chấp, năm 1992 bà L có đăng và đ ợc cấp quyền sử dụng đất cho đến năm 1999 ông Đ tự đăng và đ ợc công nhận quyền sử dụng là hông hợp pháp. Từ thực tế sử dụng đất nêu trên, qua các tài liệu chứng minh cũng nh việc tranh tụng tại phiên t a, iến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử hông chấp nhận yêu cầu háng cáo của ông Đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng d n sự.

Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm số 148/2019/DS-ST ngày 30/8/2019 của T a án nh n d n huyện C, tỉnh T.

Căn cứ: khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 khoản 1 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng d n sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 227 và hoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng d n sự.

- Căn cứ Điều 688 Bộ luật d n sự 2015.

- Căn cứ Điều 688, 722 và 726 Bộ luật d n sự 2005.

- Căn cứ các Điều 97, 98, 99, 100 và Điều 170 Luật đất đai.

- Căn cứ Điều 18, Điều 21 Nghị định 43/2014/CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M.

Công nhận phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 110,8 m2 thuộc một phần thửa đất số 281, tờ bản đồ số HKC3, diện tích 934 m2, địa chỉ thửa đất tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu số 104479/2160, ngày 21/3/1999 cho ông Nguyễn Văn Đ là thuộc quyền sử dụng của bà M.

- Buộc ông Nguyễn Văn Đ và các thành viên trong hộ gồm: Văn Thị N Nguyễn Tấn K, Nguyễn Thùy D và Nguyễn Thanh V lập thủ tục sang tên chuyển quyền cho bà M phần đất có diện tích nêu trên.

- Nếu bị đơn ông Đ và ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà N, anh K, chị D và anh V hông thực hiện, thì bà M đ ợc quyền đến cơ quan nhà n ớc có thẩm quyền đăng quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Thực hiện sau hi án có hiệu lực pháp luật.

(Có sơ đồ bản vẽ èm theo).

2.Về án phí: Ông Đ phải chịu 300.000 đồng án phí d n sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí d n sự phúc thẩm, ông Đ đã tạm nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002345 ngày 06/9/2019 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện C, tỉnh T nên ông Đ c n phải nộp tiếp 300.000 đồng.

Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị M 300.000 đồng tiền tạm nộp án phí theo biên lai thu số 09450 ngày 03/12/2018 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện C tỉnh T.

Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo điều 2 Luật thi hành án d n sự, ng ời đ ợc thi hành án d n sự, ng ời phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và Điều 9 của Luật thi hành án d n sự, thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án d n sự.

3/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ