vanban.org

Bản án 11/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 08/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Phƣơng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng đi m c khoản 1 Điều 249; đi m s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tín - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Phƣơng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 11/2019/HSST
Ngày: 08/01/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B – TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Thương.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trương Thị Thìn

2. Ông Trần Công Danh

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn – Cán bộ

Tòa án nhân dân TP B, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia

phiên tòa: Ông Phạm Đình Cảnh – i m sát vi n.

Ngày 08 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. B, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 513/2018/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Phƣơng T

Tên gọi khác: Không

Giới tính: Nam

Sinh năm 1995 tại Cà Mau.

Nơi đăng ký N TT: Ấp 2, xã N, thành phố M, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở hiện nay: trọ tại khu phố 8, phường H, thành phố B.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Không.

Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn th ): Không.

Trình độ học vấn: Lớp 6/12

Họ tên cha: Trần Văn R- Sinh năm 1964

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Q - Sinh năm 1964

Gia đình có 03 chị em, bị can là con thứ ba và chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ ngày 02/9/2018, chuy n tạm giam theo lệnh số 437 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thành phố B.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Phương T là người sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 02/9/2018, T đi đến khu vực khu phố 5, phường H, thành phố B, mua của người thanh ni n t n Tươi (không rõ lai lịch) một gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, T cầm trong tay gói ma túy tr n và đi bộ về đến khu vực tượng đài Đức Mẹ thuộc tổ 33 khu phố 5, phường H, thành phố B. Khi thấy lực lượng Công an phường H, T thả gói ma túy đang cầm trong tay xuống đất ngay vị trí T đang đứng thì bị Công an phường H phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) gói ny lon hàn kín bên trong chứa tinh th màu trắng (kí hiệu M) (Trần Phương T khai là ma túy tổng hợp -hàng đá) đã được niêm phong có chữ ký của T và dấu mộc của Công an phường H, thành phố B.

*Tại Kết luận giám định số 471/PC09-GĐMT ngày 06/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận:

“Mẫu tinh th màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1245gam, loại Methamphetamine.”

Tại cáo trạng số 525/CT/VKS-BH ngày 27 tháng 11 năm 2018, Viện Ki m sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo Trần Phương T, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại đi m c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phi n tòa, đại diện Viện Ki m sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điều khoản và tội danh như đã n u tr n; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như sau: Quá trình điều tra và tại phi n tòa bị cáo Tín thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại đi m s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Tín không có tình tiết năng nặng trách nhiệm hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Trần Phương T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo Tín không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Ki m sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Về án phí: Bị cáo Trần Phương T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP. B, Điều tra vi n; Viện i m sát nhân dân TP. B, i m sát vi n trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phi n tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Xét thấy, tại phiên tòa bị cáo Trần Phương T khai nhận, bị cáo là người nghiện ma túy.

Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 02/9/2018, T đi đến khu vực khu phố 5, phường H, thành phố B, mua của người thanh niên t n Tươi (không rõ lai lịch) một gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, T cầm trong tay gói ma túy tr n và đi bộ về đến khu vực tượng đài Đức Mẹ thuộc tổ 33 khu phố 5, phường H, thành phố B. Khi thấy lực lượng Công an phường H, T thả gói ma túy đang cầm trong tay xuống đất ngay vị trí T đang đứng thì bị Công an phường H phát hiện bắt quả tang.

Về tội danh:

Xét thấy, lời khai của bị cáo Tín tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Trần Phương T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại đi m c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện Ki m sát nhân thành phố B đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.

Về tính chất, mức độ hành vi:

Hành vi của bị cáo là nguy hi m cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự; gây tác hại cho sức khỏe và gây ảnh nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo cũng đủ nhận thức và biết ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn cho người sử dụng và đối với xã hội, bị cáo cũng nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Song với nhu cầu của bản thân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật và cố tình vi phạm. N n cần phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian đ cải tạo, giáo dục và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Phương T không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phi n tòa, bị cáo Tín tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại đi m s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Với các tình tiết giảm nhẹ tr n, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Tín tàng trữ trái phép chất ma tuý với số lượng không lớn, mục đích tàng trữ đ sử dụng cho bản thân mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuy n trái phép chất ma túy. Bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, bản thân lại nghiện chất ma tuý, n n không có điều kiện đ thi hành. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng trong vụ án:

Căn cứ đi m c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; đi m a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu và tiêu hủy số lượng ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định, được ni m phong trong 01 gói ni m phong số 471/PC09-GĐMT ngày 06/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai

(Toàn bộ số vật chứng n u tr n được bàn giao theo bi n bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự TP. B).

Đối với đối tượng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi bán ma túy cho Tín, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo Trần Phương T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện ki m sát nhân dân TP. B tại phiên tòa, xét thấy tương đối phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Phƣơng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng đi m c khoản 1 Điều 249; đi m s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Trần Phƣơng T 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2018.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng đi m c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; đi m a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu và ti u huỷ: Số lượng ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định, được ni m phong trong 01 gói ni m phong số 471/PC09-GĐMT ngày 06/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai (Mẫu vật còn lại sau giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.

(Toàn bộ số vật chứng n u tr n được bàn giao theo bi n bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/11/2018, tại Chi cục thi hành án dân sự TP. B).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; đi m a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Phương T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo Trần Phương T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày k từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ