- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng điể m g khoản 2 Điều 249; điể m s khoả n 1 Điề u 51; Điề u 38; Điề u 47 Bộ luậ t hì nh sự . Điều 106; Điề u 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH:
- Căn cứ chính? Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật hình sự phạt
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2019/HSST Ngày: 11/3/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Thu
CácHội thẩm nhân dân: Ông Nguyễ n Đăng Dũ ng.
Bà Nguyễn ThịS.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Vũ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên toà: Ông Đoà n Đì nh Thắ ng - Kiểm sát viên.
Ngày 11/03/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệ n Thuậ n Thà nh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 12/2019/HSST ngày 20/02/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐXXST-HS ngày 27/03/2019 đối với:
Bị cáo: Lê Thanh S, sinh năm 1987.
Nơi cư trú : Thôn V , xã T, huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao độ ng tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộ c: Kinh; Giớ i tính: Nam; Tôn giá o: không; Quố c tị ch: Việ t Nam; Con ông Lê Văn Th (đã chế t) và bà Phan Thị C, sinh năm 1955; Có vợ là Nguyễ n Thị D, sinh năm 1986 (Đã ly hôn) ; Con: có 02 con, lớ n sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án, tiề n sự: không.
Nhân thân: Ngày 11/05/2015 Lê Thanh S bị Công an t hành phố Bắ c Ninh , tỉnh Bắc Ninh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạ m sứ c khỏ e ngườ i khác theo qui định tại điểm e khoản 3 Điề u 5 Nghị định 167 ngày 12/11/2013 của Chính Phủ vớ i mứ c tiề n phạ t là 2.500.000đồ ng. (Lê Thanh S đã nộ p phạ t xong ngày 19/06/2015)
Bị cáo bị tạ m giữ , tạm giam từ ngày 30/9/2018 đến nay. Hiệ n đang bị tạ m giam tạ i Trạ i tạ m giam Công an tỉ nh Bắ c Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
NỘ I DUNG CỦ A VỤ Á N
Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên tò a, nộ i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/09/2018, tại khu đô thị Bắc Hà thuộ c đị a phậ n thôn Đa Tiệ n , xã Xuân Lâm , huyệ n Thuậ n Thà nh . Công an huyệ n T huậ n Thành, tỉnh Bắc Ninh bắ t quả tang Lê Thanh S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tú y. Tang vật thu giữ gồ m : Thu tạ i tú i quầ n phí a trướ c bên tr ái S đang mặ c 01 túi nilon màu xanh có quấn băng dính màu trắng bên trong có 02 gói nilon đều có màu trắng: 01 gói bên trong có chất tinh thể màu trắng, 01 gói bên trong có 21 viên nén hình tròn màu đỏ. (S khai là ma túy). Công an huyện Thuận Thành đã lập biên bản và niêm phong số vậ t chứ ng trên và gử i đi giá m đị nh. Ngoài ra còn thu giữ của S: 01 xe môtô nhã n hiệ u Yamaha E xciter mà u đen , BKS 29E2-019.82; 01 chiế c điệ n thoạ i di độ ng nhãn hiệu Iphone 5 màu gold , số IMEL là 013411008550844 kèm sim số 0972.004.240.
Tại bản Kết luận giám định số 1015/KLGDMT-PC09 ngày 30/09/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
Chấ t dạ ng tinh thể mà u trắ ng gử i giá m đị nh có kh ối lượ ng 6,1520gam: là ma túy : Loại ma túy : Methamphetamine
21 viên né n mà u đỏ gử i giá m đị nh có khố i lượ ng 2,0760 gam; là ma túy : loại ma tú y : Methamphetamine
Nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ S khai nhậ n: Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 30/09/2018 S dùng điện thoại Iphone 5 màu gold của mình gọi đến số điện thoại 0965.818.779 và số điện thoại 0913.371.128 của Lê Văn S2, sinh năm 1978 ở thôn Linh Quy Đông, xã Kim S, huyệ n Gia Lâm, thành phố Hà Nội để hỏi mua ma túy . Sình đồng ý bán ma tú y cho S và bảo S đến nhà đón Sình rồi đi lấy ma túy. Sau khi gọi điện cho Sình xong, S mượ n chiế c xe môtô nhã n hiệ u Yamaha Exciter của anh Phan Văn Quyế t , sinh năm 1988 là em con nhà cậu ở cùng thôn với S để đi đến nhà Sình. Khi mượ n xe của anh Q, S nói với anh Q là mượn để đi chơi đế n chiề u thì trả xe nên anh Q đồ ng ý . Sau đó S điề u khiể n xe môtô đi đế n nhà Sì nh. Khi đế n nhà Sình, Sình bảo S chở đế n khu nhà trọ củ a anh Nguyễ n Xuân Đạ i ở kh u đô thị Bắ c Hà thuộ c thôn Đa Tiệ n , xã Xuân Lâm , huyệ n Thuậ n Thà nh , tỉnh Bắc Ninh . Khi đến nơi S và Sình đi lên ph òng số 202. Tại đây S bảo Sình bán cho S 2.500.000đ ma tú y đá và 1.500.000đ ma tú y dạ ng ngự a , S đưa cho Sì nh số t iề n 4.000.000đ, Sình nhận tiền và đưa cho S 01 túi nilon màu xanh có quấn băng dính màu trắng xung quanh và nói với S là “ma túy ở trong đủ rồi đấy” . Sau đó Sình đi khỏi nhà trọ , S cầ m gó i ma tuy cấ t và o tú i quầ n phí a trướ c bên trá i đang mặ c rồ i mộ t mì nh đi xuố ng lấ y xe để đi về . Khi xuố ng đến hành lang tầng một của khu nhà trọ thì S bị Công an huyệ n Thuậ n Thà nh bắ t quả tang và thu giữ vậ t chứ ng.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKS, ngày 19/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh truy tố Lê Thanh S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điể m g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, Lê Thanh S khai nhận toàn bộ hành vi phạ m tộ i củ a mình như bả n cá o trạ ng đã truy tố là đú ng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh duy trì công tố tại phiên toà hôm nay sau khi phân tí ch đánh giá tính chất của vụ án, các chứng cứ, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để đưa ra những chứng cứ, lý lẽ buộc tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên tộ i danh như Cá o trạ ng đã truy tố và đề nghị áp dụng điể m g khoản 2 Điều 249; điể m s khoản 1 Điề u 51; Điề u 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t cũ ng đề nghị : Tịch thu tiêu huỷ 01 Biể n kiể m soá t 29E2- 01982 và tang vật còn lại sau giám định. Tịch thu chiế c điệ n thoạ i Iphone5 màu gold của bị cáo để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà
chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬ N ĐỊ NH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nộ i dung vụ á n, căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c tranh tụ ng tạ i phiên tò a, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n đị nh như sau:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện rõ: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 30/9/2018, Lê Thanh S đã có hành vi tàng trữ bất hợp pháp chấ t ma tuý có tổ ng khố i lượng theo kết luận giám định là 8,228gam, loại ma túy: chất Methamphetamin nhằ m mụ c đí ch để sử dụ ng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điể m g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Chính vì vậy phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[2] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiề n á n tiề n sự nhưng có nhân thân xấu. Ngày 11/5/2015 bị cáo bị Công an thành phố Bắc Ninh xử phạt hành chính về hành vi xâm phạ m sứ c khỏ e củ a ngườ i khá c. Bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân mà nay lại phạm vào tội nghiêm trọng do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, sau khi phạm tội và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đượ c hưở ng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự do vậ y cầ n xem xé t giả m nhẹ mộ t phầ n hình phạt cho bị cáo.
Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự phạt bị cáo một khoản tiền sung công quỹ Nhà nước. Nhưng xét mục đích bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng , không nhằm mục đích thu lợi nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với đố i tượ ng Lê Văn S2, là người mà bị cáo khai đã bán ma tú y cho bị cáo. Quá trình điều tra, Cơ quan điề u tra đã triệ u tậ p Lê Văn S2. Tại Cơ quan điều tra, Sình khai có quen biế t và chơi vớ i Lê Thanh S. Sáng ngày 30/9/2018 Sình có sử dụ ng điệ n thoạ i lắ p số sim 0965.818.779 gọi điện hỏi thăm S nhưng không gọ i điệ n. Sau đó S gọi lại cho Sình bằng số điện thoại 0972.004.240 đến số điện thoại 0913.371.128 của Sình và rủ đi uống nước. Tuy nhiên sau đó có việ c bậ n không đi đượ c nên Sì nh dù ng số điệ n thoạ i
0913.371.128 gọi lại đến số điện thoại 0972.004.240 để báo lại cho S là không đi được . Bản thân Sình ngày 30/9/2018 không gặ p S và không bán ma túy cho S. Cơ quan điề u tra đã cho S đố i chấ t vớ i Sình nhưng Sình không thừa nhận đã bán ma túy cho S. Tại phiên tòa hôm nay S xác nhận ngoài lời khai của mình ra thì S không có chứ ng cứ nà o khá c và khi Sì nh bán ma túy cho S cũng không có ai chứ ng kiế n. Do vậ y Cơ quan điề u tra không có căn cứ nên không xử lý đố i vớ i Sình là phù hợp.
Đối với chiếc xe môtô nhã n hiệ u Yamaha Exciter mà u đen có gắ n BKS
29E2-019.82 mà S sử dụ ng để đi mua ma tú y . Cơ quan điề u tra xá c đị nh chiế c xe là của anh Phan Văn C , sinh năm 1982 ở thôn Văn Trung, xã Tân Chi, huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh . Anh C nhờ anh Nguyễ n Văn P , sinh năm 1978 ở chùa Dận , phườ ng Đì nh Bả ng , thị xã Từ S đứ ng ra mua hộ tạ i Cử a hà ng mua bá n xe má y Doanh Hạ nh. Do khi mua xe Anh C chưa đủ tiề n trả nên chủ cử a hà ng giữ lạ i giấ y tờ xe và hẹ n khi nà o Anh C trả hết tiền thì sẽ giao giấy tờ xe cho Anh C để làm thủ tục đăng ký chiếc xe trên . Ngày 30/9/2018 Anh C cho em trai là anh Phan Văn Quyế t mượ n, sau đó anh Q cho S mượ n xe nhưng anh Q không biế t việ c S sử dụ ng chiế c xe để đi mua ma tú y . Do vậ y Cơ quan điề u tra đã trả lạ i chiế c xe cho anh Phan Văn Cườ ng là phù hợ p.
Đối với chiếc BKS 29E2- 01982 Anh C khai đã nhặ t đượ c trên đườ ng , do chiế c xe củ a anh chưa có BKS nên Anh C đã g ắn vào xe của mình để tránh sự kiể m tra củ a lự c lượ ng Công an . Theo Kết luận giám định số 23/KLGGD- PC 09 ngày 20/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh thì chiế c Biể n kiể n soá t xe mô tô 29E2- 01982 là giả do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với hành vi gắn biển kiểm soát không do Cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy đị nh củ a phá p luậ t củ a Phan Văn Cường, Công an huyệ n Thuậ n Thà nh đã ra quyế t đị nh xử phạ t hà nh chí nh là phù hơ.̣ p
Đối với 01 chiế c điệ n thoạ i nhã n hiệ u Iphone 5, số IMEL 013411008550844 kèm sim số 0972.004.240 mà Cơ quan điều tra thu giữ củ a bị cá o. Xét thấy có liên quan đế n hà nh vi phạ m tội của bị cáo nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự để xử lý số vật chứng của vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điể m g khoản 2 Điều 249; điể m s khoả n 1 Điề u 51; Điề u 38; Điề u 47 Bộ luậ t hì nh sự . Điều 106; Điề u 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH:
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Lê Thanh S 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2018. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 Biể n kiể n soá t 29E2- 01982; 01(một) phong bì đã đượ c niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉ nh Bắ c Ninh là mẫu vật còn lại sau giá m đị nh.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điệ n thoạ i nhã n hiệ u Iphone 5, số IMEL 013411008550844 kèm sim số 0972.004.240.
(Theo biên bả n giao nhậ n vậ t chứ ng tà i sả n ngà y 28/02/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Thành)
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhậ n:
| - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Thuận Thành; - Công an huyện Thuận Thành; - Những người tham gia tố tụng; - THADS huyện Thuận Thành; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨ M THẨ M PHÁ N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Minh Thu |