- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 11/2019/HSST Ngày 27/3/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH SƠN LA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bàn Văn Hoàng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lừ Văn Hùng và bà Vũ Thị Thu.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền - Cán bộ Toà án.
- Đại diện VKSND huyện Q tham gia phiên toà: Ông Lừ Văn Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 12/2019/HSST ngày 07 tháng 3 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
1/ Họ và tên: Hà Văn H, tên gọi khác: Không; sinh năm 1988; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản C, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La; Dân tộc; Thái; Quốc tịch; Việt Nam; Tôn giáo; Không. Đảng phái, đoàn thể: Không. Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; con ông: Hà Văn H, con bà Bạc Thị Q; Có vợ là Lò Thị L và 03 con, lớn nhất 12 tuổi và nhỏ nhất 06 tuổi.
Tiền sự: Không; Tiền án: - Có 01 tiền án: Ngày 01/3/2017 bị Toà án nhân dân huyện Q xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản; Bị bắt tạm giam từ ngày 29/11/2018 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 29/11/2018 Hà Văn H trú tại bản C, xã M, huyện Quỳnh Nhai,bị Công an huyện Q đã lập biên bản bắt quả tang đối với Hà Văn H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu trắng được gói bằng hai lớp giấy bạc màu vàng bên trong mỗi gói có chất bột, cục màu trắng nghi là heroine.
Cùng ngày Cơ quan điều tra Công an huyện Q phối hợp với phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu gửi giám định. Cân chất cục bột màu trắng thu giữ của học có khối lượng 0,13 gam, lấy toàn bộ 0,13 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu A.
- Tại bản kết luận giám định số: 24/KL - MT ngày 05/12/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tình Sơn La kết luận “ Mẫu gửi giám định ký hiệu A là chất ma túy, loại chất Heroine, tổng khối lƣợng chất ma túy thu giữ là 0,13 gam”. mẫu vật gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 28/11/2018 Hà Văn H đang ở nhà thì có Hà Văn M ở cùng bản đên hỏi đi xuống Hà Nội làm thuê cùng, Học đồng ý và nói với M lên bản Mông của huyện T, tỉnh Lai Châu tìm thêm người cùng đi, M đồng ý (Mục đích đi là để mua ma túy, nhưng H không nói cho M biết). Đến khoảng 21 giờ cùng ngày H điều khiển xe máy của M đèo M lên bản Mông, khi gần đến bản H bảo M xuống đứng ở đường đợi để H đi vào trong bản, H đi vào bản tìm mua ma túy, H thấy một người đàn ông đàn tộc Mông đang đi ngược chiều với H, nên H hỏi người đàn ông đó “Có không” người đó trả lời “Có, mua bao nhiêu” H nói mua “Mua 250.000đ” nói xong người đó lấy từ trong người ra 01 gói heroine được gói bằng nilon màu trắng đưa cho H “ H không để ý người đó lấy ma túy từ vị trí nào trên người ra” H lấy từ ra 01 tờ Polyme mệnh giá 200.000đ và 01 tờ Polyme mệnh giá 50.000đ đưa cho người đó, người đó cầm tiền và đưa gói ma túy cho H, trao đổi xong người đó đi đâu, làm gì H không biết cả tên tuổi, địa chỉ của người đó. Mua được ma túy H cất giấu vào trong găng tay trái H đang đeo rồi điều khiển xe máy quay về chỗ M đợi, trên đường về H dừng xe lấy giấy bạc màu vàng từ bao thuốc lá ra gói thêm hai lớp vào gói ma túy rồi lại cất ma túy vào găng tay trái rồi đi xe máy đến chỗ M, đến chỗ Mạnh H nói không đi tìm người nữa để hôm khác lên tìm sau. H điều khiển xe máy chở M quay về nhà (H mua ma túy và cất giấu ma túy trên người Hc không cho M biết). H, M về đến bản B, xã M, huyện Q, thì gặp Công an huyện Q đang làm nhiệm vụ ra tín hiệu dừng xe kiểm tra hành chính, thì H tự giác lấy gói ma túy từ trong găng tay ra giao nộp, Công an huyện Q đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hà Văn H cùng vật chứng thu giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số: 12/KSĐT - MT ngày 06/3/2019 của Viện kiểm sát nhân huyện Q, tỉnh Sơn La đã truy tố Hà Văn H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hà Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Đề nghị Hội đồng xét xử; Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Hà Văn H từ 05 (năm) đến 06(Sáu) năm tù. Miễn phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
Tiêu hủy 01 phong còn nguyên niêm phong bên ngoài ghi: Vật chứng lưu kho vụ Hà Văn H gồm 02 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 mảnh ni lon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở.
C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu có trong hồ sơ, ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ; C¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa về thời gian, địa điểm và diễn biến sự việc phù hợp với các căn cứ khác: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ. Kết luận giám định “ Khối lƣợng chất ma túy thu giữ là 0, 13 gam”. Bị cáo khai mục đích mua để sử dụng cho bản thân.
Như vậy: Có đủ căn cứ kết luận: Vào 01 giờ 00 phút ngày 29/11/2018 Công an huyện Q bắt quả tang Hà Văn H, sinh năm 1988 đăng ký hộ khẩu thường trú tại Bản C, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm chế độ quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua, sử dụng chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vì nhu cầu sử dụng của bản thân, bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, quy định mức hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm tù. Do vậy; bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, để bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, để răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý nói chung tại địa phương.
Xét về nhân thân của bị cáo:
- Năm 2007 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La tuyên phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1999, đương nhiên được xóa án tích.
- Năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La tuyên phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt. Nộp án hình sự, dân sự ngày 30/9/2013.
- Năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La tuyên phạt 15 tháng tù về tội: Công nhiên chiếm đoạt tài sản, đã chấp hành xon hình phạt tù, án hình sự, dân sự, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật tố tụng hình sự, thì tiền án trên chưa được xóa án tích. Lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân, trở thành công tốt cho gia đình và xã hội. Ngày 29/11/2018 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,13 gam nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Như vậy; Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm (do cố ý) theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, là tình tiết giảm trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS. Qua xác minh, bị cáo hiện nay đang sống vào nghề lao động tự do, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo H khai là mua với 01 người đàn ông tại bản Mông, thuộc huyện T, tỉnh Lai Châu; nhưng H không biết họ tên và địa chỉ cụ thể. Nên Cơ quan điều tra Công an huyện Qkhông có cơ sở điều tra xác minh. Do đó buộc bị cáo Hà Văn H phải chịu trách nhiệm toàn bộ số Heroine thu giữ nêu trên.
Tại hồ sơ đề cập đến Hà Văn M bị bắt quả tang cùng Hà Văn H; qua điều tra thấy Mạnh được Hà Văn H rủ đi cùng để tìm người đi làm thuê cùng, M không biết mục đích của H là đi tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân, trên đường đi và về H không nói cho M biết. Do đó cơ quan điều tra Công an huyện Qđã trả lại xe máy cho Hà Văn M là có căn cứ chấp nhận.
Tiêu hủy 01 phong còn nguyên niêm phong bên ngoài ghi: Vật chứng lưu kho vụ Hà Văn H gồm 02 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 mảnh ni lon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1/ Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Hà Văn H 05 (Năm) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2018.
Miễn hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.
2/ Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tiêu hủy: 01 phong còn nguyên niêm phong bên ngoài ghi: Vật chứng lưu kho vụ Hà Văn H gồm 02 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 mảnh ni lon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở
(Theo biên bản bàn giao vật chứng số: 15/2019 ngày 04/02/2019 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q).
3/ Về án phí: Áp dông ®iÒu 135 BLTTHS và Điều 21, 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án - Buộc bị cáo Hà Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
BÞ c¸o có quyÒn kh¸ng c¸o bản án trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n là ngày 27/3/2019. N¬i nhËn:
T/m.héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
- TA ND TØnh
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ
- VKSND (02)
- C«ng an (02)
- THA h×nh sù
- THA d©n sù
- UBND xã M
- BÞ c¸o
- L u ¸n v¨n
- L u hå s¬.
Bàn Văn Hoàng