vanban.org

Bản án 11/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 06/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lê Bá C và Nguyễn Thanh V phạ tội “Vi phạm qui định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”;

Áp dụng điể a hoản 2 Điều 232; điể b s hoản 1 2 Điều 51; hoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo: Lê Bá C: 18 ( ười tá ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba ươi sáu) tháng ể từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/9/2019). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Bá C và Nguyễn Thanh V - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (điều 232 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Bá C và Nguyễn Thanh V phạ tội “Vi phạm qui định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”;
  • Căn cứ chính? Bộ luật tố tụng hình sự Quá trình điều tra; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 584 Bộ luật D n sự tuyên buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHƯỚC SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 11/2019/HS-ST
Ngày 06-9-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Thành Tuấn

Ông Nguyễn Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ng c Thành- Thư T a án nh n d n huy n Phư c Sơn t nh Quảng Na

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành- Kiể sát viên

Ngày 06 tháng 9 nă 2019 tại trụ sở T a án nh n d n huy n Phư c Sơn t nh Quảng Na xét xử sơ thẩ công hai vụ án hình sự thụ l số: 09/2019/HS-ST ngày 26 tháng 6 nă 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2019/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 8 nă 2019 đối v i các bị cáo:

1. Lê Bá C (tên g i khác: Quang V); sinh ngày 06/12/1971; tại huy n S, t nh Q; Nơi cư trú: hối phố A, thị trấn T, huy n H, t nh Q; nghề nghi p: kinh doanh; trình độ văn hóa (h c vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Lê Bá L (chết) và bà Lê Thị T (chết); có vợ: Nguyễn Thị N (SN: 1971) và 03 con, con l n nhất sinh nă 1994 nhỏ nhất sinh nă 2009; tiền án, tiền sự: không; bị bắt gia ngày 23/10/2018 đến ngày 03/12/2018 được thay thế bằng bi n pháp “Bảo lĩnh” có ặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Thanh V; sinh ngày 14/8/1970; tại huy n S, t nh Q; HKTT: thôn P, xã C, huy n S, t nh Q; Nơi cư trú: thôn N xã B huy n H, t nh Q; nghề nghi p: inh doanh; trình độ văn hóa (h c vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Q (SN: 1937) và bà Lê Thị Đ (chết); có vợ Nguyễn Thị N1 (SN: 1973) và 02 con, con l n sinh nă 2003 con nhỏ sinh nă 2005; tiền án, tiền sự: không; bị bắt giam ngày 23/10/2018 đến ngày 03/12/2018 được thay thế bằng bi n pháp “Bảo lĩnh” có ặt tại phiên tòa.

- Nguyên đơn dân sự:

Ủy ban nh n d n xã Phư c Hi p huy n Phư c Sơn t nh Quảng Na

Địa ch : thôn 1 xã Phư c Hi p huy n Phư c Sơn t nh Quảng Na

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự: Ông Trần Ng c L- Cán bộ địa chính theo văn bản ủy quyền ngày 05/9/2019 có ặt tại phiên t a

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thị N sinh nă : 1971; Nơi cư trú: khối phố A, thị trấn T, huy n H, t nh Q có ặt tại phiên t a

Nguyễn Thanh L1 sinh nă : 1985; Nơi cư trú: thôn 4, xã P1 huy n P t nh Q vắng ặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Cổ phần chăn nuôi trồng tr t T (g i tắt là Công ty T), có trụ sở tại thị trấn T, huy n H, t nh Q do bà Nguyễn Thị N là Giá đốc. Tỷ l góp vốn: Gia đình Lê Bá C 40% cổ phần, Nguyễn Thanh V 30% cổ phần, giữ chức vụ Phó giám đốc và Hồ Quang M 30% cổ phần. Nguyễn Thị N đứng tên Giá đốc, tuy nhiên m i hoạt động của Công ty đều do chồng là ông Lê Bá C điều hành.

Công ty T đã ua lại đất rừng trồng tại Khoảnh 10, 11 Tiểu khu 652 thôn 9 (thôn 4) xã Phư c Hi p và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng của Hồ Văn Đ là 58 734 5 2 (mục đích sử dụng: Đất rừng sản xuất), của Hồ Thị V là 59.834,6m2 (mục đích sử dụng: Đất rừng sản xuất). Trên di n tích này Cơ quan chức năng đã cho phép chuyển đổi 26.364m2 để Công ty T đầu tư x y dựng trang trại chăn nuôi, gia công heo thịt thương phẩm; di n tích đất còn lại, Công ty trồng Keo. Khoảng tháng 01/2018, Lê Bá C, Nguyễn Thanh V và Hồ Quang M tiếp tục chung mua của bà Hồ Thị V một mảnh đất rừng v i di n tích khoảng hơn 4 000 2 tiếp giáp v i mảnh đất đã ua của V và Đ trư c đó và cũng được đưa vào di n tích đất rừng sử dụng của Công ty T.

Hi n trạng đất rừng trư c khi chuyển nhượng cho Công ty T: Hồ Văn Đ Hồ Thị V hai hoang nhưng ch phát dây leo, bụi rậm, không chặt hạ những cây l n, 02 người này trồng lúa, trồng Keo và sau này khi chuyển nhượng lại cho Công ty T thì trên di n tích này vẫn còn những cây gỗ l n tự nhiên sống rải rác.

Khoảng tháng 3/2018, Công ty tiến hành khai thác Keo, Lê Bá C bàn bạc v i Nguyễn Thanh V và thống nhất thuê người cưa hạ, khai thác luôn những cây gỗ tự nhiên trên di n tích này để phục vụ cho trang trại chăn nuôi heo thương phẩm và lấy khoảng trống để tiếp tục trồng Keo. Lê Bá C thuê Nguyễn Thanh L1 vào cưa hạ các cây gỗ L1 dùng cưa áy cưa hạ toàn bộ các cây gỗ sau đó cắt t a cành, ng n và cắt cây gỗ thành từng lóng. Các lóng gỗ được tập kết về để tại xung quanh khu vực đang tiến hành xây dựng trang trại của Công ty T.

Ngày 02/5/2018, Hạt Kiể l Phư c Sơn- Hi p Đức kiểm tra, phát hi n vụ vi c đã lập biên bản tạm giữ 97 lóng gỗ tròn từ nhó III đến nhóm VII, có tổng khối lượng 31,594m3 tại khu vực đang x y dựng trang trại của Công ty T.

Kết quả khám nghi m hi n trường của cơ quan chức năng vào các ngày 17/5/2018 và ngày 07/6/2018 đã xác định: Tổng di n tích đất hi n Công ty đang sử dụng là 123.984,3m2 trong đó: Di n tích có giấy chứng nhận quyền sử dụng là 118.569,1m2, di n tích không có giấy chứng nhận quyền sử dụng là 5.415,2m2 (di n tích này chia làm 02 khu vực: Khu vực 01: 1.072,4m2, khu vực 02: 4.342,8m2). Tổng số cây gỗ bị cưa hạ, khai thác trên di n tích đất rừng mà Công ty T đang sử dụng là 75 c y (nhó I đến nhóm VII), trữ lượng c y đứng là 83,250m3 gỗ tròn, khối lượng gỗ thương phẩm là 42,589m3 gỗ tr n Trong đó: Số gỗ bị khai thác trái phép trong di n tích đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng là 39 cây (nhó III đến nhóm VII), trữ lượng c y đứng là 62,419m3, khối lượng thương phẩm là 29,518m3. Số gỗ bị cưa hạ trong di n tích đất không có giấy chứng nhận quyền sử dụng là 36 c y (nhó I đến nhóm VII), trữ lượng c y đứng là 20,831m3, khối lượng gỗ thương phẩm là 13,071m3.

Theo Quyết định số: 120/QĐ-UBND ngày 11/01/2017 của UBND t nh Quảng Nam thì Khoảnh 10, 11 Tiểu hu 652 thôn 9 xã Phư c Hi p được quy hoạch chức năng rừng sản xuất, kiểu trạng thái rừng trồng gỗ núi đất (RTG), trừ 26.364m2 đã được cho phép chuyển đổi sang đất sản xuất inh doanh để Công ty xây dựng trang trại heo thương phẩm.

Về nguồn gốc di n tích đất không có giấy chứng nhận quyền sử dụng: Khu vực 1.072,4m2, di n tích này trư c đ y là của Hồ Thị V bán cho Công ty nhưng khi tiến hành đo đạc để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì khu vực này có nhiều c y ngã đổ hông đi vào đo được nên không nằm trong di n tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, tuy nhiên vẫn thuộc sở hữu của Công ty. Khu vực có di n tích 4.342,8m2: Công ty mua của bà Hồ Thị V vào tháng 01/2018.

Ngày 17/01/2019 Cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra lại hi n trường để xác định khối lượng gỗ bị bộng, rỗng ruột Đã xác định: Trong 75 cây gỗ bị khai thác trái phép có 11 cây bị bộng, rỗng ruột; khối lượng gỗ bị bộng, rỗng ruột là 11,742m3 Như vậy, sau khi trừ khối lượng gỗ bị bộng thì 75 cây gỗ bị khai thác trái phép trên di n tích đất rừng mà Công ty Cổ phần chăn nuôi trồng tr t T đang sử dụng tại Khoảnh 10, 11 Tiểu khu 652 (thuộc Thôn 9 xã Phư c Hi p) có trữ lượng c y đứng là 71,508m3, khối lượng gỗ thương phẩm là 38,211m3.

Kết luận định giá tài sản số: 02/KL-ĐG ngày 23/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huy n Phư c Sơn xác định: Giá trị thi t hại của 75 cây gỗ (nhó I đến nhóm VII), v i khối lượng 71,508m3 gỗ tròn là 245.550.100 đồng.

Số lượng gỗ tang vật thu giữ là 97 lóng gỗ tr n (nhó III đến nhóm VII), có tổng khối lượng 31,594m3 đã tiến hành bán đấu giá được 84 000 000 đồng (Tám mươi tư triệu đồng). Số gỗ thương phẩm còn tại hi n trường (6,617m3), do không có khả năng tận thu nên Cơ quan chức năng đã tiến hành tiêu hủy tại chỗ.

Tại bản Cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 09 tháng 6 nă 2019 Vi n iể sát nh n d n huy n Phư c Sơn t nh Quảng Na đã truy tố các bị cáo Lê Bá C và Nguyễn Thanh V về tội: “Vi phạm qui định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điể a hoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự

Tại phiên t a đại di n Vi n iể sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối v i các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xe xét các bị cáo phạ tội lần đầu thành hẩn hai báo về hành vi phạ tội của ình Cha ẹ bị cáo C có công v i cách ạng Đề nghị áp dụng điể a hoản 2 Điều 232; điể b s hoản 1 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Bá C từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo Áp dụng điể a hoản 2 Điều 232; điể b s hoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo qui định của pháp luật

Về trách nhi d n sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584 Điều 589 Bộ luật d n sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo Lê Bá C và Nguyễn Thanh V phải bồi thường cho UBND xã Phư c Hi p, huy n Phư c Sơn số tiền 245 550 100 đồng.

Đối v i số tiền 84 000 000 đồng là tiền bán gỗ vật chứng của vụ án đã được UBND huy n Phư c Sơn xử l theo Quyết định số: 873/QĐ-UBND ngày 20/5/2019 nên hông đề cấp đến

Các bị cáo đồng luận tội của Vi n iể sát và xin giả nhẹ hình phạt

Nguyên đơn d n sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng luận tội của Vi n iể sát

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huy n Phư c Sơn t nh Quảng Na Điều tra viên Vi n iể sát nh n d n huy n Phư c Sơn Kiể sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hi n đúng về thẩ quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Quá trình điều tra và tại phiên t a các bị cáo hai nhận hành vi phạ tội của ình phù hợp v i quy định của pháp luật; các bị cáo hông có iến hoặc hiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp

Tại phiên t a các bị cáo Lê Bá C và Nguyễn Thanh V hai nhận hành vi phạ tội của ình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu Lời hai của các bị cáo phù hợp v i lời hai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra biên bản há nghi hi n trường và phù hợp v i các tài li u chứng cứ hác có trong hồ sơ vụ án thể hi n: Khoảng tháng 3/2018, Lê Bá C và Nguyễn Thanh V thống nhất thuê Nguyễn Thanh L1 cưa hạ, khai thác cây gỗ tự nhiên sống rải rác trên di n tích 123.984,3m2 của Công ty T. Tổng số cây bị cưa hạ là 75 cây có trữ lượng c y đứng là 71,508m3, khối lượng thương phẩm là 38,211m3, có giá trị 245 550 100 đồng. Vi c khai thác 75 cây gỗ Lê Bá C và Nguyễn Thanh V không xin phép chính quyền địa phương

Tại phiên toà Nguyên đơn d n sự hai: Công ty Cổ phần T hai thác gỗ tại Khoảnh 10, 11 Tiểu hu 652 thôn 9 xã Phư c Hi p, huy n Phư c Sơn t nh Quảng Na UBND xã Phư c Hi p không tiếp nhận hồ sơ thủ tục của Công ty T về vi c tận thu khai thác lâm sản trên di n tích đất rừng sản xuất đang sử dụng của Công ty T. 75 cây gỗ tự nhiên tại Khoảnh 10, 11 Tiểu hu 652 thôn 9 xã Phư c Hi p do UBND xã Phư c Hi p trực tiếp quản lý. Hành vi khai thác gỗ của Lê Bá C và Nguyễn Thanh V là trái phép, nên UBND xã yêu cầu Lê Bá C và Nguyễn Thanh V phải bồi thường theo qui định của pháp luật.

Tại phiên t a bà Nguyễn Thị N hai: Công ty T do bà đứng tên là Giá đốc Vi c hai thác tận thu 75 c y gỗ tại Khoảnh 10, 11 Tiểu hu 652 thôn 9 xã Phư c Hi p do chồng bà là Lê Bá C và Nguyễn Thanh V thuê người khai thác v i danh nghĩa cá nh n chứ bà không biết và Công ty T hông đưa ra chủ trương hai thác

Trên cơ sở lời hai của các bị cáo; nguyên đơn d n sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Căn cứ ục 1 Tiểu ục 1 5 phần IV của Thông tư liên tịch số: 19/2007/TTLT/BNN&PTNT- BTP- BCA- VKSNDTC- TANDTC ngày 08/3/2007 của Bộ Nông nghi p & Phát triển nông thôn Bộ Tư pháp Bộ Công an Vi n Kiể sát nh n d n tối cao T a án nh n d n tối cao Hư ng dẫn áp dụng ột số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạ trong lĩnh vực quản lý rừng bảo v rừng và quản lý lâm sản; Thông tư số: 12/VBHN-BNNPTNT ngày 28/11/2017 của Bộ nông nghi p và phát triển nông thôn. Căn cứ ết quả khám nghi hi n trường và Công văn số: 129/HKL ngày 04/10/2018 của Hạt iể lâm Phư c Sơn- Hi p Đức xác định: Theo Quyết định số: 120/QĐ-UBND, ngày 11/01/2017 của UBND t nh Quảng Nam Phê duy t điều ch nh bổ sung quy hoạch bảo v và phát triển rừng t nh Quảng Nam giai đoạn 2011-2020 thì Khoảnh 10, 11, Tiểu khu 652 thôn 9, xã Phư c Hi p, huy n Phư c Sơn t nh Quảng Nam, được quy hoạch iểu trạng thái rừng trồng gỗ núi đất (RTG) chức năng rừng sản xuất Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CB 281523 ngày 23/5/2016 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CB 281524 ngày 23/5/2016 của UBND huy n Phư c Sơn thì Thửa đất 494 Tờ bản đồ địa chính số 2 và Thửa đất số 495 Tờ bản đồ địa chính số 2 thuộc thôn 9 xã Phư c Hi p huy n Phư c Sơn cấp cho Công ty T là đất rừng sản xuất Do đó hành vi khai thác cây rừng ở rừng sản xuất của các bị cáo mà không được cơ quan nhà nư c có thẩm quyền cho phép là vi phạm pháp luật. Vì vậy Cáo trạng Vi n iể sát nh n d n huy n Phư c Sơn t nh Quảng Na truy tố bị cáo Lê Bá C và Nguyễn Thanh V tội “Vi phạm qui định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” là có căn cứ đúng người đúng tội đúng pháp luật Tội phạ và hình phạt của các bị cáo được qui định tại điể a hoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự

Đánh giá tính chất vụ án: Bị cáo Lê Bá C và Nguyễn Thanh V cùng thành lập công ty để hoạt động sản xuất inh doanh Đáng lẽ ra hi hai thác c y gỗ tự nhiên đứng sống trên di n tích đất (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và di n tích chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) của Công ty các bị cáo phải xin phép cơ quan có thẩ quyền i được hai thác Đằng này các bị cáo đã tự thuê người hai thác trái phép 39 cây gỗ trong di n tích đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng và 36 cây trong di n tích đất không có giấy chứng nhận quyền sử dụng Mặc dù trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hông xác lập quyền sở hữu các c y gỗ đứng sống có trên di n tích đất đã được cấp nhưng các bị cáo vẫn hai thác Do đó hành vi của các bị cáo là vi phạ pháp luật Khi thuê người hai thác các c y gỗ thì C và V trao đổi và thực hi n chứ hông có sự bàn bạc ph n công nhi vụ cụ thể cho nhau nên các bị cáo phạ tội đồng phạ giản đơn hông có tổ chức Xét về hành vi phạ tội của hai bị cáo thì thấy các bị cáo cùng thống nhất thuê người cưa hạ c y và C là người trực tiếp thuê người cưa hạ Tuy nhiên hành vi của các bị cáo là cùng nhau và cùng vì lợi ích chung của Công ty T nên cùng chịu trách nhi ngang nhau Hành vi phạ tội của các bị cáo đã x phạ các qui định của Nhà nư c về quản l và bảo v rừng là ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội nên xử phạt các bị cáo ức hình phạt tương xứng v i hành vi phạ tội của các bị cáo để giáo dục đối v i các bị cáo và ph ng ngừa chung cho xã hội

. Xét luận tội của Đại diện viện kiểm sát: Vi n iể sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giả nhẹ cho các bị cáo phạ tội lần đầu thành hẩn hai báo các bị cáo đã hắc phục ột phần hậu quả thi t hại Cha ẹ bị cáo C có công v i cách ạng Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điể b s hoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối v i các bị cáo Đối v i bị cáo C áp dụng thê hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có cơ sở được chấp nhận

. Về tình tiết định khung hình phạt:

Các bị cáo phạ tội qui định tại điể a hoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhi hình sự: Các bị cáo hông vi phạ tình tiết tăng nặng trách nhi hình sự

Về tình tiết giả nhẹ: Các bị cáo phạ tội lần đầu chưa có tiền án tiền sự tại cơ quan điều tra và tại phiên t a các bị cáo đã thành hẩn hai báo Các bị cáo phạ tội ột phần do thiếu hiểu biết pháp luật Các bị cáo có nh n th n tốt có nơi cư trú rõ ràng Vì vậy áp dụng điể b s hoản 1 Điều 51; hoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự nă 2015 xử phạt bị cáo ức hình phạt dư i hung à Vi n iể sát truy tố và cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đã đủ tác dụng giáo dục đối v i các bị cáo Đối v i bị cáo C cha ẹ có công v i cách ạng được Nhà nư c tặng Hu n chương háng chiến hạng Ba nên áp dụng hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài hình phạt chính đáng lẽ ra các bị cáo c n có thể bị xử phạt bổ sung theo qui định tại hoản 4 Điều 232 Bộ luật Hình sự Tuy nhiên xét thấy các bị cáo phải bồi thường thi t hại nên hông xử phạt bổ sung

. Đối v i Công ty T do bà Nguyễn Thị N là người đứng tên Đ doanh nghi p và giữ chức vụ Giá đốc nhưng các vấn đề liên quan đến hoạt động của Công ty đều do Lê Bá C và Nguyễn Thanh V quyết định Vi c Lê Bá C và Nguyễn Thanh V thuê người hai thác tận thu 75 c y gỗ tự nhiên trên đất của Công ty tại Khoảnh 10, 11 Tiểu hu 652 thôn 9 xã Phư c Hi p. Bà N không ch đạo điều hành vi c khai thác gỗ. Bị cáo C và V khai thác gỗ được thực hi n không nhân danh Công ty T, nên không xem xét trách nhi đối v i pháp nh n thương ại và cá nhân bà Nguyễn Thị N

Đối v i Hồ Quang M tham gia góp vốn và sở hữu 30% cổ phần của Công ty T nhưng M hông thường xuyên tham gia vào các công vi c liên quan đến hoạt động của Công ty. Lê Bá C và Nguyễn Thanh V thuê người hai thác tận thu 75 c y gỗ Hồ Văn M hông biết Vì vậy hông xe xét trách nhi liên quan

Đối v i Nguyễn Thanh L1 là người được C và V thuê trực tiếp cưa hạ các c y gỗ Tuy nhiên L1 ch là người là thuê hông biết vi c C và V hai thác gỗ trái phép nên hông xử l đối v i hành vi của L1

. Về trách nhiệm dân sự:

Thi t hại à bị cáo C và V g y ra là 245 550 100 đồng Các bị cáo cùng thống nhất thuê người cưa hạ c y gỗ nên phải liên đ i bồi thường Mỗi bị cáo số tiền 122 775 050 đồng Được hấu trừ vào số tiền 40 000 000đ à các bị cáo đã đã nộp tại Chi cục thi hành án d n sự huy n Phư c Sơn theo Biên lai thu tiền số 002272 và số 002273 ngày 08/3/2019; Biên lai thu tiền số 002275 và số 002276 ngày 17/7/2019 Mỗi bị cáo c n phải bồi thường cho UBND xã Phư c Hi p số tiền là 102 775 050 đồng Áp dụng hoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584 Điều 589 Bộ luật D n sự buộc bị cáo Lê Bá C và Nguyễn Thanh V phải liên đ i bồi thường số tiền còn lại cho UBND xã Phư c Hi p, huy n Phư c Sơn

. Về xử lý vật chứng:

Số lượng gỗ tang vật thu giữ là 97 lóng gỗ tr n (nhó III đến nhóm VII), có tổng khối lượng 31,594m3 đã tiến hành bán đấu giá được 84.000 000 đồng (Tám mươi tư triệu đồng). Số gỗ thương phẩm còn tại hi n trường (6,617m3), do không có khả năng tận thu nên Cơ quan chức năng đã tiến hành tiêu hủy tại chỗ.

Đối v i số tiền 84 000 000 đồng là tiền bán gỗ vật chứng của vụ án đã được UBND huy n Phư c Sơn xử l theo Quyết định số: 873/QĐ-UBND ngày 20/5/2019 nên hông đề cấp đến

. Về án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm: Áp dụng hoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điể a, c hoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về ức thu iễn giả thu nộp quản l và sử dụng án phí và l phí T a án buộc các bị cáo phải chịu

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Lê Bá C và Nguyễn Thanh V phạ tội “Vi phạm qui định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”;

- Áp dụng điể a hoản 2 Điều 232; điể b s hoản 1 2 Điều 51; hoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo:

Lê Bá C: 18 ( ười tá ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba ươi sáu) tháng ể từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/9/2019).

- Áp dụng điể a hoản 2 Điều 232; điể b s hoản 1 Điều 51; hoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo:

Nguyễn Thanh V: 18 ( ười tá ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba ươi sáu) tháng ể từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/9/2019).

Giao bị cáo Lê Bá C cho UBND thị trấn Tân An, huy n Hi p Đức, t nh Quảng Nam giá sát giáo dục trong thời gian thử thách Gia đình bị cáo có trách nhi phối hợp v i chính quyền địa phương giá sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách

Giao bị cáo Nguyễn Thanh V cho UBND xã Bình Lâm, huy n Hi p Đức, t nh Quảng Nam giá sát giáo dục trong thời gian thử thách Gia đình bị cáo có trách nhi phối hợp v i chính quyền địa phương giá sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hi n theo qui định tại Điều 69 của Luật thi hành án hình sự

- Về trách nhiệm dân sự

Áp dụng hoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584 Điều 589 Bộ luật D n sự tuyên buộc bị cáo Lê Bá C và Nguyễn Thanh V phải liên đ i bồi thường cho UBND xã Phư c Hi p, huy n Phư c Sơn số tiền thi t hại là 245 550 100 đồng. Được hấu trừ vào số tiền 40 000 000 đồng à bị cáo C và bị cáo V đã nộp tại Chi cục thi hành án d n sự huy n Phư c Sơn theo Biên lai thu tiền số 002272 và số 002273 ngày 08/3/2019; Biên lai thu tiền số 002275 và số 002276 ngày 17/7/2019 Các bị cáo c n phải bồi thường cho UBND xã Phư c Hi p số tiền là 205.550.100 đồng Trong đó bị cáo Lê Bá C c n phải bồi thường số tiền là 102 775 050đ (Một trăm lẻ hai triệu bảy trăm bảy mươi lăm ngàn không trăm năm mươi đồng) Bị cáo Nguyễn Thanh V c n phải bồi thường số tiền là 102 775 050đ (Một trăm lẻ hai triệu bảy trăm bảy mươi lăm ngàn không trăm năm mươi đồng).

Kể từ ngày bản án có hi u lực pháp luật và bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối v i số tiền đã tuyên à bên phải thi hành án chậ trả thì hàng tháng bên phải thi hành án c n phải trả cho bên được thi hành án số tiền lãi tương ứng v i thời gian chậ trả theo ức lãi suất phát sinh do chậ trả tiền qui định tại Điều 357 và hoản 2 Điều 468 Bộ luật D n sự

- Án phí hình sự sơ thẩ ỗi bị cáo phải chịu: 200 000đ (Hai trăm ngàn đồng). Án phí d n sự sơ thẩ ỗi bị cáo phải chịu 5 138 752đ (Năm triệu một trăm ba mươi tám ngàn bảy trăm năm mươi hai đồng).

Các bị cáo; nguyên đơn d n sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền háng cáo trong hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án sơ thẩ

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Cỡ chữ