vanban.org

Bản án 11/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 23/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/12/2018. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐƠN DƯƠNG
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2019/HSST
Ngày: 14 - 3 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Minh Nhựt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Xuân Hoa.

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ngân - Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 07/2019/HSST ngày 18 tháng 02 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/QĐXX ngày 26/02/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức H, sinh năm: 1981; Nơi cư trú: thôn Q, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề ngH: sữa chữa máy nông nghiệp; Học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn Hiển (đã chết) và bà Nguyễn Thị Mai; Anh, chị em ruột: Có 06 người, lớn nhất sinh năm 1970, bị cáo là con út trong gia đình;Vợ: Nguyễn Huy Lệ Thủy, sinh năm 1984; Con có 03 người, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2019; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Đơn Dương từ ngày 07/12/2018 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 15 phút ngày 07/12/2018 tại trước số nhà 01 TDP Lâm Tuyền 2 - D'ran - Đơn Dương - Lâm Đồng, lực lượng Công an huyện Đơn Dương phát hiện Nguyễn Đức H có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, lực lượng Công an huyện đã yêu cầu H phối hợp làm việc. Qua kiểm tra trên người H phát hiện tại ống quần bên phải (quần jean) đã được sắn từ ống quần lên có giấu 01(một) gói nylon kích thước khoảng 1cm x 3cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy đá). H khai nhận gói nylon trên là ma túy đá do một người bạn tên Tiến ở Đức trọng cho, sau đó H đưa về và cất giữ trong người để sử dụng. Lực lượng Công an huyện đã tiến hành lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Đức H và thu giữ tang vật có liên quan.

Tại kết luận số 183/GĐ-PC09 ngày 10/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lâm Đồng: xác định mẫu tinh thể đựng trong 01 (một) gói nylon được niêm phong trong phong bì màu trắng ký hiệu 01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1799g, loại Methamphetamin. Methampetamin là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức H đã khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo H khai nhận bản thân bị cáo là người có sử dụng ma túy, vào ngày 07/12/2018 bị cáo có tàng trữ 0,1799g loại ma túy đá được cất giấu ở ống quần, sau đó đã bị cơ quan điều tra phát hiện và bắt giữ cùng với số ma túy cất giấu. Số ma túy trên được một người bạn tên Tiến ở Đức Trọng cho bị cáo mang về nhà sử dụng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Đức H đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 08/KSĐT ngày 18 tháng 02 năm 2019, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức H đã phạm vào tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,0591g ma túy;

Bị cáo không có ý kiến gì về mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa; Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

.Về hành vi tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện Đơn Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào ngày 07/12/2018, Nguyễn Đức H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1799g loại ma túy Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.Vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Đánh giá tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đức H đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, đi ngược lại với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người sử dụng ma túy vì vậy cần phải có thái độ xử lý nghiêm minh và nhất thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt về sau.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là lao động chính trong gia đình, có con còn nhỏ nên áp dụng điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình là phù hợp.

. Về hình phạt bổ sung:Xét bị cáo là lao động phổ thông, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

. Về vật chứng:

0,1799g ma túy là tang vật của vụ án, sau khi giám định còn lại 0,0591g cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 điện thoại di động của Nguyễn Đức H quá trình điều tra xác định không liên quan tới việc phạm tội, cơ quan điều tra đã đã trả lại cho H là thỏa đáng.

. Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/12/2018.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,0591g ma túy.

(Đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự huyện Đơn Dương vào ngày 19/02/2019).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm về hình sự.

4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bi cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ