- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Xuân C và đồng phạm phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Xuân C, Đặng Văn H, Bàn Văn T, Lý Văn H, Bàn Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2019/HS-ST Ngày 07/5/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Trọng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đình Bông; Ông Hồ Quang Hiển.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vi Thế Nam – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Hữu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2019/ QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Đỗ Xuân C, sinh năm 1982; nơi sinh: tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Xuân T và bà Hà Thị N; vợ là Trương Thị S và 02 con; bị tạm giữ từ ngày 29/01/2019 đến ngày 01/02/2019 được tại ngoại - Có mặt.
2. Đặng Văn H (tên gọi khác: C), sinh năm 1982; nơi sinh: tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H và bà Phún Tài N; vợ là Trương Thị L và 02 con; bị tạm giữ từ ngày 29/01/2019 đến ngày 01/02/2019 được tại ngoại - Có mặt.
3. Bàn văn T, sinh năm 1990; nơi sinh: tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: thôn T, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bàn Đức M và bà Lý Thị T; vợ là Chu Thị T (đã ly hôn) và 02 con; được tại ngoại - Có mặt.
4. Lý Văn H, sinh năm 1979; nơi sinh: tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn T, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn B và bà Đặng Thị X; vợ là Bàn Thị H và 01 con; được tại ngoại - Có mặt.
5. Bàn văn Đ (tên gọi khác: N), sinh năm 1990; nơi sinh: tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: thôn Q, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bàn Văn B và bà Trương Thị D; vợ là Đặng Thị M và 01 con; được tại ngoại - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 29 tháng 01 năm 2019, Đặng Văn H ở nhà tại thôn T, xã N, huyện K uống trà cùng với Bàn Văn T, Lý Văn H và Đỗ Xuân C. Trong lúc ngồi uống trà thì C, T, Đặng Văn H và Lý Văn H rủ nhau chơi bầu cua ăn tiền. Khi này, Đặng Văn H và C lấy 03 hạt xúc xắc in hình các đồ vật, con vật bầu – cua – tôm – cá – gà – nai, 01 tờ giấy in hình bầu – cua – tôm – cá – gà – nai, 01 tô và 01 đĩa bằng kim loại có sẵn ở nhà Đặng Văn H mang ra chiếc chiếu đang ngồi uống nước trà ở phòng khách. C lấy khoảng 8.000.000đồng trong túi quần của mình ra để làm cái. Hình thức chơi bầu cua, C cầm cái và lấy một cái đĩa nhôm, bỏ 03 hình hộp vuông trên các mặt có in hình các đồ vật, con vật: bầu – cua – tôm – cá – gà – nai, rồi lấy chiếc bát kim loại đậy lại và xóc. Sau khi C xóc xong, người chơi sẽ đặt tiền vào các hình tương ứng được in trên một tờ giấy hình chữ nhật. Số tiền mà người chơi đặt trúng vào mặt nổi lên của hình đồ vật, con vật, sẽ nhận được số tiền tương ứng với số tiền người chơi đặt nhân với số đồ vật, con vật. Nếu không trùng với số đồ vật con vật nổi lên, thì người chơi mất tiền cho C.
Khi Đỗ Xuân C cầm cái, thì Đặng Văn H sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc, đặt cược mỗi ván từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng; Lý Văn H sử dụng số tiền khoảng 100.000 đồng để đặt cược, mỗi ván từ 20.000 đồng đến 60.000 đồng; Bàn Văn T sử dụng số tiền khoảng hơn 100.000 đồng để đặt cược, mỗi ván từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng.
Khoảng 13 giờ cùng ngày Bàn Văn Đ đi đến nhà Đặng Văn H, thấy đang chơi bầu cua nên tham gia, Đ sử dụng số tiền là 200.000 đồng để đặt cược, mỗi ván đặt 50.000 đồng. Khi chơi được khoảng 30 phút, thì Đặng Văn H thua hết 300.000 đồng nên đi ra sau vườn làm việc nhà. Lúc này Đỗ Xuân C, Lý Văn H, Bàn Văn T và Bàn Văn Đ tiếp tục chơi, thì có anh Đặng Văn H, Bàn Văn S nhà ở cùng thôn T và anh Lý Văn P nhà ở thôn Q, xã N đứng ở ngoài cửa xem một lúc rồi đi về, anh Lý Văn T nhà ở thôn T, xã N đến sau và đi vào nhà Đặng Văn H ngồi xem đánh bạc. Đến 14 giờ 45 phút ngày 29 tháng 01 năm 2019 Công an huyện Krông Nô bắt quả tang thì Lý Văn H, Đặng Văn T bỏ chạy ra sau nhà Đặng Văn H rồi đi về nhà mình; Đỗ Xuân C, Bàn Văn Đ bị bắt tại chiếu bạc cùng số tiền trên chiếu là 9.000.000 đồng và vật dụng sử dụng để chơi bầu cua.
Ngày 29/01/2019 Đặng Văn H đã đến Cơ quan điều tra để đầu thú.
- Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ:
+ Số tiền 9.470.000 đồng. Trong đó thu giữ trên chiếu bạc số tiền 9.000.000 đồng và trên người Đỗ Xuân C 470.000 đồng.
+ 01 chiếu màu xanh; 09 hạt xúc xắc có in hình Bầu, cua, tôm, cá, nai, gà; 01 tờ giấy có in hình Bầu, cua, tôm, cá, nai, gà; 01 đĩa bằng kim loại; 01 tô bằng kim loại; 01 CMND và 01 điện thoại hiệu Sam sung của Đỗ Xuân C; 01 điện thoại hiệu ViVo và 01 xe máy BKS: 48F5-6973 của Bàn Văn Đ.
Cáo trạng số: 20/CTr-VKS ngày 23/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố các bị cáo Đỗ Xuân C, Đặng Văn H, Bàn Văn T, Lý Văn H, Bàn Văn Đ về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 - Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Đỗ Xuân C, Đặng Văn H, Bàn Văn T, Lý Văn H, Bàn Văn Đ khai nhận toàn bộ nội dung hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị Tòa án tuyên bố các bị cáo Đỗ Xuân C, Đặng Văn H, Bàn Văn T, Lý Văn H, Bàn Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 - Điều 321; điểm s – khoản 1 – Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: phạt tiền bị cáo Đỗ Xuân C từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 - Điều 321; điểm i, điểm s – khoản 1 – Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt các bị cáo Bàn Văn T,Lý Văn H, Bàn Văn Đ, phạt tiền mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 - Điều 321; điểm i, điểm s – khoản 1, khoản 2 – Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: phạt tiền bị cáo Đặng Văn H từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước : số tiền 9.000.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và 470.000 đồng do Đỗ Xuân C có được từ việc phạm tội. Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếu, 09 hạt xúc xắc, 01 tờ giấy có in hình Bầu, cua, tôm, cá, nai, gà, 01 đĩa, 01 tô. Chấp nhận cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô trả Đỗ Xuân C 01 CMND và 01 điện thoại hiệu Sam Sung; trả Bàn Văn Đ 01 điện thoại hiệu ViVo màu trắng-vàng và 01 xe máy BKS: 48F5-6973.
Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Nô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
. Khoảng 15 giờ ngày 29/01/2019, tại nhà của Đặng Văn H thuộc thôn T, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông, Đỗ Xuân C, Đặng Văn H, Bàn Văn T, Lý Văn H, Bàn Văn Đ cùng thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức “Bầu cua” thắng, thua bằng tiền thì bị Công an huyện Krông Nô bắt quả tang, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 9.470.000 đồng. Như vậy, hành vi của Đỗ Xuân C, Đặng Văn H, Bàn Văn T, Lý Văn H, Bàn Văn Đ bị Viện kiểm sát nhân huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông truy tố về tội Đánh bạc theo khoản 1 - Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và nhân thân của bị cáo:
3.1. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Tính chất mức độ hành vi các bị cáo Đặng Văn H, Bàn Văn T, Lý Văn H, Bàn Văn Đ thực hiện tương đương nhau. Bị cáo Đỗ Xuân C là người cầm cái, ngày 09/3/2007 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong và đã được xóa án tích do đó mức hình phạt đối với bị cáo C cao hơn các bị cáo khác. Do đó, cần xử phạt các bị cáo hình phạt tương xứng mới mức độ của hành vi phạm tội đủ để giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống; đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
3.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của bị cáo; các bị cáo Đặng Văn H, Bàn Văn T, Lý Văn H, Bàn Văn Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Đặng Văn H sau khi bỏ trốn đã ra đầu thú. Do đó, có căn cứ để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về biện pháp tư pháp:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 chiếu, 09 hạt xúc xắc, 01 tờ giấy có in hình Bầu, cua, tôm, cá, nai, gà, 01 đĩa, 01 tô.
Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nướ c: số tiền 9.470.000 đồng (trong đó thu giữ trên chiếu bạc 9.000.000 đồng và 470.000 đồng do Đỗ Xuân C có được từ việc phạm tội).
Chấp nhận cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô trả Đỗ Xuân C 01 CMND và 01 điện thoại hiệu Sam Sung; trả Bàn Văn Đ 01 điện thoại hiệu ViVo màu trắng-vàng và 01 xe máy BKS: 48F5-6973.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a - khoản 1 - Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Xuân C, Đặng Văn H, Bàn Văn T, Lý Văn H, Bàn Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 - Điều 321; điểm s – khoản 1 – Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: phạt tiền bị cáo Đỗ Xuân C 30.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 - Điều 321; điểm i, điểm s – khoản 1 – Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
Phạt tiền bị cáo Bàn Văn T 20.000.000 đồng.
Phạt tiền bị cáo Lý Văn H 20.000.000 đồng.
Phạt tiền bị cáo Bàn Văn Đ 20.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 - Điều 321; điểm i, điểm s – khoản 1, khoản 2 – Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: phạt tiền bị cáo Đặng Văn H 20.000.000 đồng.
Tiền phạt được nộp một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về biện pháp tƣ pháp: Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 chiếu, 09 hạt xúc xắc, 01 tờ giấy có in hình Bầu, cua, tôm, cá, nai, gà, 01 đĩa, 01 tô. (Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 07/5/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô).
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước : số tiền 9.470.000 đồng (trong đó thu giữ trên chiếu bạc 9.000.000 đồng và 470.000 đồng do Đỗ Xuân C có được từ việc phạm tội). (Số tiền đã chuyển vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô).
Chấp nhận cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô trả Đỗ Xuân C 01 CMND và 01 điện thoại hiệu Sam Sung; trả Bàn Văn Đ 01 điện thoại hiệu ViVo màu trắng-vàng và 01 xe máy BKS: 48F5-6973.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; áp dụng điểm a – khoản 1 - Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.
Buộc các bị cáo Đỗ Xuân C, Đặng Văn H, Bàn Văn T, Lý Văn H, Bàn Văn Đ, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án cấp trên yêu cầu xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Nông; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - Sở tư pháp tỉnh Đăk Nông; - VKSND huyện Krông Nô; - Bộ phận HSNVCS-CA huyện Krông Nô; - Cơ quan THAHS-CA huyện Krông Nô; - Chi cục THADS huyện Krông Nô; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Quách Trọng Sơn |