vanban.org

Bản án 11/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 23/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Đông G (Mèo) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt: Bị cáo Võ Đông G 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 11 năm 2018. Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chìa khóa xe mô tô, 01 (một) biển số… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Đông G - Điều 323 - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Đông G (Mèo) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 11/2019/HS-ST
Ngày: 23 - 01 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Chí Lin.

Ông Nguyễn Thanh Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Trị - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Võ Đông G (Mèo), sinh năm 1981, tại L; Nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh L; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Võ Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị L; bị cáo có vợ, con tên Nguyễn Thị Tuyết O, sinh năm 1985 (đã ly hôn) và ba người con lớn nhất sinh năm 2002 và nhỏ sinh năm 2006; Tiền sự: Không; Tiền án: có 03 tiền án.

- Bản án số 167/2011/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2011 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, xử phạt Võ Đông G 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, Võ Đông G chấp hành xong hình phạt vào ngày 29 tháng 02 năm 2012.

- Bản án số 04/2013/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2013 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, xử phạt Võ Đông G 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, Võ Đông G chấp hành xong hình phạt vào ngày 16 tháng 07 năm 2013.

- Bản án số 142/2014/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2014 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xử phạt Võ Đông G 03 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, Võ Đông G chấp hành xong hình phạt vào ngày 08 tháng 01 năm 2018.

Đến ngày 09 tháng 11 năm 2018, Võ Đông G tiếp tục phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đang chờ xử lý, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Biện pháp ngăn chặn: Bị tạm giữ quả tang ngày 09 tháng 11 năm 2018 đến ngày 18 tháng 11 năm 2018 chuyển tạm giam đến nay, bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Tạ Ý N, sinh năm 1988. (xin xét xử vắng mặt)

2/ Anh Trần Cao S, sinh năm 1985. (xin xét xử vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số 712/20 T, phường 14, quận 3, thành phố H.

- Người làm chứng: Trần Minh C (vắng mặt), Nguyễn Thanh T (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 09 tháng 11 năm 2018, bị cáo Võ Đông G đi xe buýt từ huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đến bến xe huyện C để xin việc làm. Khi đến bến xe huyện C, bị cáo G gặp một người bạn tên T không rõ nhân thân lai lịch; T rủ bị cáo G đến quán cà phê hiệu L2 thuộc khu phố 2, thị trấn C, huyện C, thành phố H để uống cà phê. Tại đây, T kêu G vận chuyển xe mô tô do người khác phạm tội mà có cho T từ quán cà phê L2 về cất giữ tại nhà của G thuộc ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh L để đi tiêu thụ, tiền công cho bị cáo G là 200.000 đồng, bị cáo G đồng ý. Khoảng 11 giờ cùng ngày, T gọi điện thoại cho một người tên U (không rõ nhân thân lai lịch) đến giao cho bị cáo G một xe mô tô biển số 62K1-231.19, bị cáo G nhận xe và điều khiển xe đến khu vực ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh L thì bị lực lượng Công an xã L phát hiện bắt quả tang tạm giữ người và vật chứng giao lại Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa điều tra xử lý.

Tang vật tạm giữ quả tang gồm: 01 xe mô tô biển số 62K1-231.19, 01 chìa khóa xe mô tô.

Qua điều tra xác định xe mô tô biển số 62K1-231.19 do bị cáo G điều khiển bị bắt quả tang có biển số thật là 59F1-909.98, số máy JA39E0047707, số khung 3901HY047654, biển số 62K1-231.19 là biển số giả. Xe này do chị Tạ Ý N, sinh năm 1988, hộ khẩu thường trú Phường 1, Quận 3, Thành phố H đứng tên giấy đăng ký sở hữu, chồng chị N là anh Trần Cao S sử dụng và bị mất trộm vào lúc 09 giờ ngày 09/11/2018 tại nhà số 12, đường L, Phường 11, quận G, Thành phố H.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 96/KL.ĐGTS ngày 14/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Hòa kết luận 01 xe mô tô biển số 62K1-231.19 (biển số giả) do bị cáo G điều khiển bị bắt quả tang có giá trị là 16.011.000đồng.

Ngày 16/11/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa đã trao trả tài sản là xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng đen bạc, số máy JA39E0047707, số khung 3901HY047654 cho anh Trần Cao S.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSĐH ngày 05 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Võ Đông G về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm đ khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Võ Đông G gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Tuyên bố bị cáo Võ Đông G phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; xử phạt bị cáo Võ Đông G mức hình phạt từ 04 năm đến 05 năm tù.

Đề nghị áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Về tang vật chứng:

+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng đen bạc, số máy JA39E0047707, số khung 3901HY047654 là tài sản hợp pháp của chị Tạ Ý N và anh Trần Cao S, do chị Tạ Ý N đứng tên giấy đăng ký sở hữu; xe do anh Trần Cao S sử dụng thì bị mất trộm, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa đã trả lại cho anh Trần Cao S nên đề nghị không đề cập, xem xét.

+ Đối với 01 chìa khóa xe mô tô, bị cáo dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 biển số 62K1-231.19, quá trình điều tra xác định đây là biển số giả nên đề nghị tịch thu tiêu hủy, biển số 62K1-231.19 thật do anh Phạm Sơn T đứng tên chủ sở hữu và hiện nay vẫn đang quản lý, sử dụng xe mô tô biển số 62K1-231.19 nên không đề cập, xem xét.

- Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Tạ Ý N và anh Trần Cao S đã nhận lại tài sản là xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng đen bạc, số máy JA39E0047707, số khung 3901HY047654 và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên đề nghị không xem xét. Ngoài ra trong vụ án này, bị cáo chưa thu lợi bất chính nên đề nghị không đề cập, xem xét.

Đối với người thanh niên tên T, U có hành vi thuê bị cáo G vận chuyển xe môtô do người khác phạm tội mà có, do không xác định được nhân thân lai lịch của 02 người này, Cơ quan điều tra đang tiếp tục truy xét làm rõ xử lý sau nên đề nghị không xem xét.

Tại phiên tòa bị cáo Võ Đông G hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Lời khai nhận tội của bị cáo Võ Đông G trước Tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 09 tháng 11 năm 2018; Bản kết luận định giá tài sản số 96/KL.ĐGTS ngày 14/11/2018 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và phù hợp với nội dung bản cáo trạng.

Thấy rằng, dù biết rõ nguồn gốc tài sản là do người khác phạm tội mà có nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 09 tháng 11 năm 2018 bị cáo Võ Đông G đã nhận vận chuyển tài sản là xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu trắng đen bạc, biển số 62K1.231.19 (biển số giả) số máy JA39E0047707, số khung 3901HY047654 (xe có giá trị thành tiền là 16.011.000đồng) cho một người tên U (không rõ nhân thân lai lịch) từ khu vực thị trấn C, Thành phố H về xã L, huyện Đ, tỉnh L với tiền công là 200.000 đồng. Khi bị cáo G điều khiển xe mô tô trên đến địa phận thuộc ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh L thì bị Công an huyện Đức Hòa kiểm tra bắt quả tang; khi bị bắt quả tang bị cáo chưa thu lợi từ việc thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của bị cáo G đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Xét thấy, ngày 18/12/2014, bị cáo G bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng “Tái phạm”; chấp hành xong ngày 08/01/2018, chưa được xóa án tích, nay bị cáo lại tiếp tục thực hành vi phạm tội với lỗi cố ý; Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” .

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Võ Đông G phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm đ khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Võ Đông G với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Võ Đông G gây ra là nguy hiểm. Bị cáo biết rõ đây là tài sản do phạm tội mà có nhưng bị cáo vẫn nhận vận chuyển để tiêu thụ được tài sản. Hành vi này đã xâm phạm đến khách thể là trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến công tác bảo vệ pháp luật và phòng chống tội phạm của Nhà nước, là tiếp tay, thúc đẩy cho hoạt động tội phạm. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp; Bị cáo từng có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng vẫn không biết sửa đổi mà tiếp tục phạm tội mới; Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần.

Từ phân tích [3] và [4], xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Võ Đông G là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Về tang vật chứng:

+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng đen bạc, số máy JA39E0047707, số khung 3901HY047654 là tài sản hợp pháp của chị Tạ Ý N và anh Trần Cao S, do chị Tạ Ý N đứng tên giấy đăng ký sở hữu; xe do anh Trần Cao S sử dụng thì bị mất trộm, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa đã trả lại cho anh Trần Cao S nên không đề cập, xem xét.

+ Đối với 01 chìa khóa xe mô tô bị cáo dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 biển số 62K1-231.19, quá trình điều tra xác định đây là biển số giả nên đề nghị tịch thu tiêu hủy, biển số 62K1-231.19 thật do anh Phạm Sơn T đứng tên chủ sở hữu và hiện nay vẫn đang quản lý, sử dụng xe mô tô biển số 62K1-231.19 nên không đề cập, xem xét.

. Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Tạ Ý N và anh Trần Cao S đã nhận lại tài sản là xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng đen bạc, số máy JA39E0047707, số khung 3901HY047654 và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên đề nghị không xem xét. Ngoài ra trong vụ án này, bị cáo chưa thu lợi bất chính nên không đề cập, xem xét.

. Đối với người thanh niên tên T và U có hành vi thuê bị cáo G vận chuyển xe môtô do người khác phạm tội mà có, do không xác định được nhân thân lai lịch của 02 người này, Cơ quan điều tra đang tiếp tục truy xét làm rõ xử lý sau nên không đề cập, xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Võ Đông G (Mèo) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt: Bị cáo Võ Đông G 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 11 năm 2018.

Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Võ Đông G 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/01/2019) để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

- Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chìa khóa xe mô tô, 01 (một) biển số 62K1-231.19 (biển số giả).

Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 43-05/01/2019 ngày 05 tháng 01 năm 2019.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Võ Đông G nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

Án này là sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ