- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn T1 phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T1 và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 26/2019/HS - ST ngày 19 tháng 3 năm 2019 Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2019/HS-PT Ngày 29 - 5 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Văn Thịnh
Các Thẩm phán:
Bà Bùi Thị Thảo
Ông Nguyễn Đức Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoài Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 19/2019/TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo Đinh Văn T1 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2019/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.
- Bị cáo có kháng cáo:
Đinh Văn T1, sinh năm 1974 tại huyện N, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp làm ruộng; trình độ văn hoá 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Bá V (đã chết) và bà Hoàng Thị T; có vợ Bùi Thị T và 03 con; không có tiền sự; có 05 tiền án:
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/2006/HSST ngày 25/6/2006 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình xử phạt Đinh Văn T1 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng.
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 09/2008/HSST ngày 11/3/2008 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình xử phạt Đinh Văn T1 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng.
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 08/2012/HSST ngày 20/8/2012 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Ninh Bình xử phạt Đinh Văn T1 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2014/HSST ngày 28/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình xử phạt Đinh Văn T1 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Các bản án trên Đinh Văn T1 đều đã chấp hành xong hình phạt chính và tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 23/2015/HSST ngày 12/5/2015 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình xử phạt Đinh Văn T1 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Ngày 24/02/2017 Đinh Văn T1 chấp hành xong hình phạt tù và án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/10/2018 đến ngày 20/10/2018 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có 6 bị cáo và 3 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 14/10/2018 Lê Văn Q, Lê Văn Đ1, Lê Văn T2 ngồi chơi uống nước tại gia đình nhà Lê Văn Đ sau đó Q rủ Đ1, T2, Đ1 về nhà Q tại thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình đánh bạc thì mọi người đều đồng ý rồi cùng nhau đi đến nhà Q để đánh bạc. Khoảng 23 giờ cùng ngày Lê Văn Q lấy tại bàn uống nước nhà mình 01 bộ bài tú lơ khơ rồi cùng Lê Văn Đ1, Lê Văn T2, Lê Văn Đ1 ngồi xuống chiếu trải sẵn tại nền phòng khách sử dụng 52 quân bài tú lơ khơ ký hiệu từ A đến K để đánh bạc và thống nhất hình thức “đánh liêng” được thua bằng tiền. Sau khi so bài, bài của ai cao điểm hơn được lấy tiền ở cửa giữa của mỗi người là 20.000 đồng và tiền cược thấp nhất 20.000 đồng, cao nhất 100.000 đồng; trong mỗi ván số lần phạt tối đa không quá 02 lần. Sau đó lần lượt, Đinh Văn T3, Trần Văn Đ2, Đinh Văn T1 đi đến nhà Q và ngồi xuống cùng tham gia đánh bạc. Quá trình đánh bạc Lê Văn Q đã thu của Lê Văn Đ2, Lê Văn Đ3, Lê Văn T2, Đinh Văn T3, Trần Văn Đ4, Đinh Văn T1, mỗi người số tiền 50.000 đồng, tổng số tiền là 300.000 đồng để trả tiền điện, nước. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 15/10/2018, Lê Văn Đ3 và Lê Văn T1 đứng dậy đi ăn sáng, còn lại Lê Văn Q, Lê Văn Đ1, Đinh Văn T3, Trần Văn Đ4 và Đinh Văn T1 tiếp tục đánh bạc. Sau khi ăn sáng xong Lê Văn Đ3 và Lê Văn T2 quay lại nhà Q cùng Q, Đ1, T3, T1 và Đ4 tiếp tục đánh bạc.
Đến 09 giờ ngày 15/10/2018 trong khi Lê Văn Q, Lê Văn Đ2, Lê Văn Đ1, Đinh Văn T3, Lê Văn T2, Trần Văn Đ3 và Đinh Văn T1 đang đánh bạc thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình phối hợp với Công an xã T, huyện N làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện và bắt quả tang, số tiền các bị cáo sử dụng vào đánh bạc là 12.300.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 26/2019/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2019 Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn Q, Lê Văn Đ2, Lê Văn Đ1, Đinh Văn T3, Lê Văn T2, Trần Văn Đ3 và Đinh Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt Đinh Văn T1 36 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 15/10/2018.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên hình phạt với mức hình phạt từ phạt tiền 25 triệu đồng đến 27 tháng cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo Lê Văn Q, Lê Văn Đ2, Lê Văn Đ1, Đinh Văn T3, Lê Văn T2, Trần Văn Đ4; hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định của pháp luật.
Ngày 29/3/2019 bị cáo Đinh Văn T1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa bị cáo Đinh Văn T1 vẫn giữ nội dung kháng cáo với lý do: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo vào tham gia đánh bạc sau cùng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố chết, mẹ già yếu, có anh trai là Liệt sỹ, mức án 36 tháng tù giam đối với bị cáo là quá nặng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa phúc thẩm sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, xét vai trò của bị cáo trong vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T1 và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 26/2019/HS - ST ngày 19 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Đinh Văn T1 36 tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 15/10/2018.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng giảm nhẹ hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T1 là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đinh Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đồng phạm phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại Cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, lời khai của các bị cáo khác trong vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng với các vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 23 giờ ngày 14/10/2018 đến 09 giờ ngày 15/10/2018 các bị cáo Lê Văn Q, Lê Văn Đ2, Lê Văn Đ1, Đinh Văn T3, Lê Văn T2, Trần Văn Đ4 và Đinh Văn T1 đã sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân sát phạt nhau dưới hình thức “đánh liêng” được thua bằng tiền tại nhà của Lê Văn Q và bị Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình phát hiện bắt quả tang,số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 12.300.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự như bản án sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét yêu cầu kháng cáo toàn bộ bản án của bị cáo Đinh Văn T1, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình đúng như bản án sơ thẩm đã xét xử. Vụ án đồng phạm giản đơn, trong số các bị cáo tham gia đánh bạc tại nhà Lê Văn Q tại thôn L, xã T, huyện N, bị cáo Đinh Văn T1 mặc dù là người đến sau cùng nhưng chính bị cáo là người chủ động gọi điện cho Trần Văn Đ4 để hỏi địa điểm đánh bạc, tham gia đánh bạc với vai trò tích cực. Bị cáo có nhân thân xấu từ năm 2006 đến năm 2015 bị cáo đã 5 lần bị xét xử về các tội “Đánh bạc”, “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản”. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 23/2015/HSST ngày 12/5/2015 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình xử phạt bị cáo với tội danh “Trộm cắp tài sản” đã xác định bị cáo phạm tội với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Ngày 24/02/2017 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và án phí hình sự sơ thẩm, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 03 đến 07 năm tù. Bản án sơ thẩm đã xem xét, đánh giá toàn bộ nội dung, tính chất vụ án, cá thể hóa hình phạt của các bị cáo trong vụ án đồng phạm; đánh giá về nhân thân, xem xét, áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn T1 mức hình phạt 36 tháng tù về tội “Đánh bạc”, tịch thu chiếc điện thoại Nokia 150 là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm bị cáo đưa ra tình tiết mới là hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố chết, mẹ già yếu, có anh trai là Liệt sỹ, Hội đồng xét xử thấy đây là tình tiết mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần chấp nhận. Măc dù bị cáo có tình tiết mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định bằng mức thấp nhất của khung hình phạt, bị cáo không đủ điều kiện để xử dưới mưc thấp nhất của khung hình phạt; các tình tiết, căn cứ, các yêu cầu có liên quan bị cáo đưa ra tại phiên tòa phúc thẩm đã được cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng đầy đủ đúng pháp luật, vì vậy yêu cầu kháng cáo toàn bộ bản án của bị cáo Đinh Văn T1 là không có căn cứ nên không được chấp nhận. Hội đồng xét xử thấy cần giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 26/2019/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T1 không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T1 và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 26/2019/HS - ST ngày 19 tháng 3 năm 2019 Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Văn T1 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 15/10/2018.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Đinh Văn T1 phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 29/5/2019./.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao (1 bản); - TAND cấp cao tại Hà Nội (1 bản); - VKSND Tỉnh Ninh Bình (3 bản); - Phòng kiểm tra nghiệp vụ THA (2 bản); - TAND huyện N (5 bản); - VKSND huyện N (1 bản); - CA huyện N (1 bản); - Chi cục THADS huyện N (1 bản); - Phòng HS&NV Công an tỉnh (1 bản); - Bị cáo (1 bản); - Trại tạm giam (1 bản); - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình (1 bản); - Lưu hồ sơ (2 bản); - Lưu tòa (1 bản); - Lưu tổ hành chính tư pháp (1 bản); (Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú). g | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký và đóng dấu) Tô Văn Thịnh |