- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà T ly hôn tranh chấp nuôi con với ông Ngh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu ly hôn, yêu cầu được nuôi con chung của bà Lê Thị Mộng T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2019/HNGĐ-ST Ngày: 23-4-2019 Về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Liễu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Thái Bình
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Tâm- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuấn- Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2019/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mộng T, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Ấp R, thị trấn V, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.
Bị đơn: Nguyễn Vủ Ngh, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Ấp R, xã B, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.
Bà T vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Ngh vắng mặt lần thứ hai không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về yêu cầu của nguyên đơn: Theo đơn xin ly hôn đề ngày 21/12/2018 và đơn xin vắng mặt nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết: Về hôn nhân: Xin ly hôn với ông Ngh; Về con chung: Yêu cầu nuôi con chung tên Nguyễn Văn T1, sinh ngày 11/9/2018, không yêu cầu ông Ngh cấp dưỡng nuôi con.
Ông Ngh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do nên ông Ngh không có lời trình bày.
Về các tình tiết cụ thể của vụ án được nguyên đơn trình bày và thể hiện trong các tài liệu chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án như sau: Bà và ông Ngh do người quen mai mối, sau đó tìm hiểu nhau vài tháng thì tiến tới hôn nhân, bà và ông Ngh có tổ chức lễ cưới vào năm 2017, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã B, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An và được UBND xã cấp giấy chứng nhận kết hôn bản chính số 04/2018 ngày 28/02/2018, giấy này ông Ngh đang giữ và không đồng ý giao cho bà nên bà chỉ cung cấp cho Tòa án bản sao. Sau khi cưới, vợ chồng bà về làm ăn sinh sống tại ấp R, xã B, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. Trong thời gian sống chung với ông Ngh thì vợ chồng hay bất đồng ý kiến với nhau, nguyên nhân là ông Ngh hay đi nhậu rồi kiếm chuyện hành hung bà, đến ngày 14/9/2018 thì bà về nhà cha mẹ ruột để ở. Bà và ông Ngh có một con chung tên Nguyễn Văn T1, sinh ngày 11/9/2018. Về tài sản chung và nợ chung thì không có.
Tại phiên tòa, nguyên đơn đơn có đơn xin xết xử vắng mặt nhưng trong đơn bà vẫn giữ nguyên các yêu cầu trên.
Về ý kiến của Viện kiểm sát:
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đầy đủ và đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quyền và Ngh vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nội dung vụ án: Hôn nhân của bà T và ông Ngh được hình thành trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật; Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng bà là do bất đồng quan điểm, không hiểu nhau nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9/2018 đến nay; Hiện tại bà T không còn tình cảm với ông Ngh, còn ông Ngh thì từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Ngh không đến, không thể hiện ý kiến của mình, cũng như không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, mâu thuẫn của vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể kéo dài cuộc sống hôn nhân thêm nữa nên đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T. Bà T và ông Ngh có một con chung tên Nguyễn Văn T1, sinh ngày 11/9/2018, nhận thấy yêu cầu của bà T là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình “con dưới 36 tháng tuổi giao cho mẹ trực tiếp nuôi” nên có đủ cơ sở giao con chung cho bà T nuôi dưỡng, chăm sóc, bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập đến.
Từ các căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, 35, 39, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 81 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu ly hôn của bà T.
Về các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ: Ngoài các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp như: Bản sao giấy chứng nhận kết hôn, bản sao giấy khai sinh con chung, xác nhận về cư trú ông Ngh, bản tự khai, bản photo giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu, Tòa án đã tiến hành thu thập các tài liệu chứng cứ như: Xác minh tình trạng cư trú, tình trạng hôn nhân của ông Ngh tại nơi sinh sống ngày 19/02/2019. Các tài liệu chứng cứ nêu trên đã được Tòa án công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thẩm quyền: Bà T yêu cầu ly hôn với ông Ngh và tranh chấp nuôi con chung; ông Ngh có nơi cư trú tại ấp R, xã B, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền
Về tố tụng: Ông Ngh đã được triệu hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do còn bà T thì có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt ông Ngh và bà T và giải quyết vụ án theo quy đinh tại Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân:
Hôn nhân của bà T và ông Ngh là hôn nhân hợp pháp được hình thành trên cở sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B vào ngày 28 tháng 02 năm 2018 theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp;
Biên bản xác minh ngày 19/2/2019 tại ấp R, xã B, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An phù hợp với lời trình bày của bà T về việc bà đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sống từ tháng 9/2018 đến nay; Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo, quyết định cho ông Ngh nhưng ông Ngh cũng không liên hệ đến Tòa án để thực hiện quyền và Ngh vụ của mình cũng như thể hiện ý kiến về tình trạng hôn nhân giữa ông và bà T, ông Ngh cũng không thể hiện ý kiến về việc sẽ hàn gắn lại tình cảm với bà T, cùng nhau xây dựng, chăm lo cho gia đình; Đồng thời, tại đơn xin xét xử vắng mặt bà T xác định đã không còn tình cảm với ông Ngh và giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Ngh.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy vợ chồng bà T không còn chung sống với nhau nên không thể hiện được tình cảm yêu thương cũng như thực hiện quyền và Ngh vụ của vợ chồng với nhau, từ đó tình trạng hôn nhân của bà T và ông Ngh đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; Ông Ngh thì không quan tâm đến việc bà T yêu cầu ly hôn mà có thái độ bỏ mặc tình trạng hôn nhân cho bà T tự định đoạt nên việc chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T là phù hợp với quy định tại điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Con chung tên Nguyễn Văn T1, sinh ngày 11/9/2018 dưới 36 tháng tuổi nên rất cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ và đang sinh sống ổn định cùng bà T; Hiện tại bà T có việc làm ổn định, đảm bảo chăm lo cho cháu T1 phát triển lành mạnh về mọi mặt nên yêu cầu của bà T về việc nuôi con chung Nguyễn Văn T1 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật tại các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
Ông Ngh có quyền thăm nom, chăm sóc con chung và quyền yêu cầu thay đổi nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Về chia tài sản chung và chia nợ chung: Bà T xác định không có, còn ông Ngh thì chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét, trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp thì xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu về ly hôn tranh chấp nuôi con của bà T.
Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu ly hôn, yêu cầu được nuôi con chung của bà Lê Thị Mộng T.
Về hôn nhân: Bà Lê Thị Mộng T được ly hôn với ông Nguyễn Vủ Ngh.
Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Văn T1, sinh ngày 11/9/2018 (giới tính: Nam) cho bà Lê Thị Mộng T trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, một trong hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
Về án phí: Bà Lê Thị Mộng T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước. Chuyển 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vĩnh Hưng ngày 03/01/2019 theo biên lai thu tiền số 0004285 sang tiền án phí.
Báo cho bà T, ông Ngh biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND,VKSND Tỉnh Long An; - VKSND huyện Vĩnh Hưng; - Chi cục THADS/H Vĩnh Hưng; - UBND xã B; - Các đương sự; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuân Liễu |