vanban.org

Bản án 11/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phạm Thị N xin ly hôn anh Vũ Cao C"
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ XUYÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2019/HNGĐ-ST
Ngày 31/5/2019
Về việc: “Chị Ninh xin ly hôn

Anh Cường”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN,THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Quang Huy

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung; Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên tham gia phiên

tòa: Ông Bùi Quốc Trưởng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31/5/2019 tại trụ sở TAND huyện Phú Xuyên để xét xử công khai vụ án thụ lý số: 57/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2018. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2019/QĐXX-LH ngày 25 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2019/QĐST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2019; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N- Sinh năm 1992.

HKTT: Thôn Q, xã T, huyện X, TP Hà Nội.

Hiện trú tại Chưng cư C, phường Th, quận B, TP Hà Nội

Và Bị đơn: Anh Vũ Cao C - Sinh năm 1989

HKTT: Thôn Thần Q, xã T, huyện X, TP Hà Nội.

Chị N có mặt, anh C vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn ghi ngày 20/3/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án tại toà, nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày:

Chị và anh Vũ Cao C, tự nguyện tìm hiểu, kết hôn vào ngày 24/2/2015, đăng ký kết hôn tại UBND xã Minh Tân. Sau khi cưới, chị về chung sống với anh C và gia đình anh ngay. Tuy nhiên, quan hệ vợ chồng chỉ hòa thuận khoảng hơn 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, do anh Cmải chơi, thiếu quan tâm trách nhiệm với vợ con, vì thế mà thường xảy ra va chạm, bất hòa, dù đã cố gắng chung sống để níu kéo hôn nhân, nhưng vẫn không thành, nên đến tháng 2/2019, thì chị đã quyết định sống ly thân. Xác định hạnh phúc, tương lai không có, tình cảm không còn, chị đề nghị được ly hôn anh C.

Về con chung: Vợ chồng có 01 cháu là Vũ Anh Th, sinh ngày 16/9/2015, hiện cháu đang ở với chị. Chị N đề nghị được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh Cường phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung vợ chồng: Chị N không yêu cầu Tòa xét.

Phía bị đơn, anh Vũ Cao C vắng mặt tại Tòa án không có lý do.

Tại phiên tòa: Chị Phạm Thị N giữ nguyên quan điểm của mình về việc kiện.

Đại diện VKSND huyện Phú Xuyên tham gia phiên toà phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các qui định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình. Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ tham gia tố tụng. Đề nghị HĐXX, xét xử vụ án theo qui định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị N. Giao chị N tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung và tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh C. Không xét quan hệ tài sản chung vợ chồng. Chị N phải chịu án phí ly hôn, theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà. Trên cơ sở lời trình bày của đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết tại Tòa án và tại phiên tòa, anh C vắng mặt không có lý do. Vì vậy, theo qui định tại điều 227, 228 Bộ luật TTDS, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh C .

Về Nội dung:

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị N và anh Vũ Cao C có 01 cuộc hôn nhân tự nguyện, hợp pháp, thể hiện bằng việc các bên đăng ký kết hôn vào ngày 24/2/2015 tại UBND xã Minh Tân. Sau khi cưới họ về chung sống với nhau ngay, nhưng hệ vợ chồng hòa thuận khoảng hơn 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân một phần do anh C mải chơi, thiếu quan tâm trách nhiệm với gia đình, phần do không hợp tính, vợ chồng thường xảy ra va chạm, bất hòa. Dù đã được gia đình hai bên nhiều lần giúp đỡ, động viên, khuyên giải để níu kéo hôn nhân, song tình cảm giữa các bên vẫn không cải thiện được mà ngày một trầm trọng thêm, nên đến tháng 2/2019, thì chị N đã quyết định ly thân anh Cường, đồng thời làm đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn tại Tòa. Phía anh Cường, dù đã nhiều lần được Tòa án triệu tập về Tòa giải quyết việc kiện, tham gia các phiên họp, phiên hòa giải, song anh C cũng không có mặt, điều đó chứng tỏ anh C không có thiện chí níu kéo hôn nhân. Xác minh tại nơi cư trú, chính quyền địa phương cũng xác nhận, mâu thuẫn vợ chồng của chị N và anh C đã có từ lâu, đã trầm trọng và không thể hàn gắn. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa các bên đã thực sự trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng các qui định của điều 55,56, 57 Luật hôn nhân và gia đình và điều 39 BLDS, xử cho chị Ninh được ly hôn anh C là phù hợp.

Về con chung: Vợ chồng có 01 cháu là Vũ Anh Thơ, sinh ngày 16/9/2015 và hiện ở với chị N. Xét nguyện vọng của chị N xin được nuôi con, trong khi cháu Th mới được hơn 03 tuổi, lại là con gái, về đặc điểm tâm, sinh lý thì giao cho người mẹ được trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp hơn. Hơn nữa, theo phản ảnh từ phía gia đình anh C, thì bản thân anh C cũng đồng ý giao cháu cho chị Ninh được nuôi dưỡng. Do vậy, HĐXX quyết định giao con chung cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu, nên Tòa tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi cho anh Cường, đến khi chị Ninh có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo qui định của pháp luật.

Về tài sản chung vợ chồng: Chị N không đề nghị Tòa xét, trong khi anh Cường vắng mặt, nên Tòa án không xét trong vụ án này. Trường hợp sau này, nếu các bên có tranh chấp và có yêu cầu, thì Tòa án sẽ xem xét, giải quyết trong một vụ án dân sự khác theo qui định của pháp luật.

Về án phí: Chị Ninh phải chịu án phí ly hôn theo qui định của pháp luật.

Bởi những nhận định trên

TOÀ QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 39 BLDS; Khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật TTDS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội qui định về thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Ninh.

- Về hôn nhân: Chị Phạm Thị N được ly hôn anh Vũ Cao C

- Về con chung: Giao cháu Vũ Anh Th, sinh ngày 16/9/2015 cho chị Phạm Thị N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Vũ Cao C, đến khi chị Phạm Thị N có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo qui định của pháp luật.

Anh Vũ Cao C được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cản.

- Về án phí: Chị Phạm Thị N phải nộp 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí nộp tại phiếu thu số AE/2010/0005328 ngày 27/3/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên. Chị N đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ