- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Căn c vào khoản 3 Điều 26, đi m a khoản 1 Điều 35, đi m a khoản 1 Điều 39, Điều 147, đi m b, Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố t ng dân sự năm 2015.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2019/HNGĐ-ST Ngày: 31/7/2019. “V/v:Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Ngọc.
- Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Khắc Dũng.
2. Ông Phan Xuân Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện a ar tham gia phiên tòa:
Ông Lê Thành Thước. Ch c v : Ki m s t viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2019, tại tr sở Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai v n hôn nhân gia đình th lý số: 68/2019/HNGĐ-ST, ngày 26 tháng 02 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo quyết định đưa v án ra xét xử số: 14/2019/QĐXX-ST, ngày 26 tháng 12 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2019/QĐST – HNGĐ ngày 15/7/2019. Giữa c c đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đặng Minh N, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Thôn 8, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)
Bị đơn: Ông Vũ Duy C, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Thôn 8, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 18/02/2019, tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Đặng Minh N trình bày:
Tôi và chồng tôi có về chung sống với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên vào ngày 07/4/2006.
Nguyên nhân chính dẫn đến tôi làm đơn xin ly hôn: Thời gian đầu hai vợ chồng về chung sống hạnh phúc mâu thuẫn vợ chồng ph t sinh từ năm 2018 nguyên nhân là so hai vợ chồng tính tình không hợp nhau, không có tiếng nói chung không tin tưởng nhau, nên thường xuyên xảy ra cãi vã mắng nhiếc đ nh đập và xô x t, chồng tôi hay uống rượu chè mỗi lần say lên là lại đ nh đập vợ con, hiện tại vợ chồng chúng tôi đang sống ly thân từ khoảng th ng 10/2018 cho đến nay, trong khoảng thời gian này tôi ở nhà bố mẹ đẻ, chồng tôi là ông C thường sang nhà mẹ đẻ đ hành hung tôi. Trong bản tự khai của chồng tôi tại Tòa n tôi đã được đọc lại thấy sự việc chồng tôi trình bày là không đúng, nay tôi thấy bản thân bị hành hạ về th x c lẫn tinh thần như thế tôi không chịu đựng về đoàn t đ nuôi dạy con c i được, mỗi lần xảy ra mâu thuẫn bị đ nh đập tôi có b o với chính quyền địa phương nhưng chồng tôi đã được mọi người khuyên ngăn nhưng vẫn như vậy. trong khoảng thời gian Tòa n đang giải quyết v n thì ông C đã có hành vi đ nh tôi bị giãn dây chằng cổ tay tr i, sự việc này tôi đã trình b o đến chính quyền địa phương và được Công an xã C x c nhận. Nay tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, m c đích hôn nhân không đạt được nếu tiếp t c chung sống thì không mang lại hạnh phúc cho nhau. Nên tôi đề nghị Tòa n giải quyết cho tôi được ly hôn với ông C.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chúng tôi có 02 người con chung.
1. Ch u tên: Vũ Duy G, sinh ngày 14/8/2008.
2. Ch u tên: Vũ Duy T, sinh ngày 24/4/2012.
Nay hai vợ chồng ly hôn thì tôi nhận nuôi dưỡng và chăm sóc ch u Vũ Duy T, sinh ngày 24/4/2012. Còn đối với ch u Vũ Duy G sinh ngày 14/8/2008 thì theo nguyện vọng của ch u đ chồng tôi là ông Vũ Duy C nuôi dưỡng và chăm sóc đến tuổi trưởng thành.
Về trợ cấp nuôi dưỡng con chung: không yêu cầu Tòa n giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa n giải quyết.
* Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 27/2/2019 và bản tự khai ngày 28/2/2019 ông Vũ Duy C trình bày:
Tôi và vợ tôi có về chung sống với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên vào ngày 07/4/2006.
Tôi x c định vợ tôi có vấn đề k từ ngày 01/9/2018, vợ tôi đi làm từ Thành phố Hồ Chí Minh về đ m tang em trai, vợ tôi không còn quan tâm chăm sóc chồng con như trước nữa mà dẫn cháu T về nhà mẹ đẻ sinh sống, tết đến vợ tôi không quan tâm đến gia đình và c c con, tự tay một mình tôi lo toan cho các con, vợ tôi là một người thiếu tr ch nhiệm đối với gia đình và con. Tôi không đồng ý ly hôn, vợ tôi tự ý bỏ đi ch tôi không bỏ vợ, mong muốn của tôi là vợ chồng về đoàn t nuôi dậy con, còn nếu như cô ấy vẫn cố tình ly hôn thì mong được nuôi hai con.
Về con chung: trong thời gian chung sống vợ chồng có hai con chung là:
1. Ch u tên: Vũ Duy G, sinh ngày 14/8/2008.
2. Ch u tên: Vũ Duy T, sinh ngày 24/4/2012.
Vợ tôi là một người thiếu tr ch nhiệm làm vợ, làm mẹ là một người thiếu lương tâm, không có tình người nên không đồng ý đ vợ tôi nuôi hai ch u mà tôi sẽ trực tiếp nuôi dưỡng hai ch u đến tuổi trưởng thành .
Về tài sản chung, nợ chung: tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa n giải quyết.
Sau khi th lý v án Tòa án nhân dân huyện Ea Kar đã tiến hành triệu tập các đương sự đ tiến hành cho c c đương sự tự khai, tại phiên họp ki m tra việc giao nộp, tiếp cận công khai ch ng c và hòa giải, ông C vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được nên Tòa n đưa v án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ngày 15/7/2019 Tòa án nhân dân huyện Ea Kar đưa v án ra xét xử công khai nhưng bị đơn ông Vũ Duy C vắng mặt không có lý do. Tòa n đã ra Quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Vũ Duy C vắng mặt tại phiên tòa lần th 2
Ki m sát viên phát bi u ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố t ng: Từ khi th lý, đến khi xét xử, Thẩm ph n tuân theo quy định như lập hồ sơ v n, x c định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư c ch tham gia tố t ng của c c đương sự, tống đạt giấy triệu tập, các quyết định của Tòa n cho đương sự, thời hạn giải quyết v án, chuy n hồ sơ cho Viện ki m sát nghiên c u đúng quy định, thành phần Hội đồng xét xử và trình tự thủ t c tố t ng tại phiên tòa đảm bảo đúng quy định theo Điều 179, Điều 195; Điều 196; Điều 203 của Bộ luật tố t ng dân sự năm 2015 về phía bị đơn ông Vũ Duy C vắng mặt tại phiên tòa lần th 2 không có lý do đề nghị HĐXX giải quyết vắng mặt đối với ông C.
Về nội dung v n: Qua các ch ng c đã được thu thập có lưu trong hồ sơ v án, qua phần tranh t ng tại phiên tòa, x c định mâu thuẫn vợ chồng là thực tế, mâu thuẫn đã đến m c trầm trọng, nếu tiếp t c chung sống thì không mang lại hạnh phúc cho nhau.
- Từ c c phân tích trên, đề nghị HĐXX p d ng Điều 51, 53, 56, 58; Điều 81 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N.
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đặng Minh N được ly hôn với ông Vũ Duy C.
Về con chung: Xét yêu cầu của c c đương sự, nguyện vọng của c c con, đề nghị HĐXX gi o ch u Vũ Duy G, sinh ngày 14/8/2008 cho ông Vũ Duy C chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, giao ch o Vũ Duy T, sinh ngày 24/4/2012 cho bà Đặng Minh N nuôi dưỡng và chăm sóc đến tuổi trưởng thành.
Bà N và ông C được quyền đi lại chăm sóc và gi o d c con chung không ai có quyền ngăn cản.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về n phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng: Bà Đặng Minh N có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ea Kar giải quyết việc ly hôn với ông Vũ Duy C. Bà N và ông C đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn 8, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, đi m a, Khoản 1 Điều 35, đi m a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố t ng dân sự, v án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
Về quan hệ hôn nhân: bà Đặng Minh N và ông Vũ Duy C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân UBND xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên vào ngày 07/4/2006 trên cơ sở tự nguyện, xét thấy đây là hôn nhân hợp ph p được ph p luật thừa nhận và bảo vệ.
Qua xem xét các ch ng c trong hồ sơ v n HĐXX nhận thấy quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng bà N và ông C có hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh từ năm 2018 nguyên nhân là do hai vợ chồng tính tình không hợp nhau, không có tiếng nói chung, không có tin sự tin tưởng và cảm thông, nên vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn và xô xát và anh C thường uống rượu, mỗi lần say về là đ nh đập vợ con, nên dẫn tới bà N không th sống chung với ông C được nữa nên đã chuy n về sinh sống cùng với bố mẹ đẻ từ th ng 10/2018 cho đến nay hai vợ chồng đã sống ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn phù hợp với biên bản xác minh tại chính quyền địa phương và qua biên bản lấy lời khai của các con tại Tòa án, trong thời gian Tòa án đang giải quyết v án, ông C đã có hành vi đ nh vợ dẫn đến giãn dây chằng cổ tay trái sự việc này đã được Ban tự quản thôn 8 và Công an xã C, huyện Ea Kar xác nhận. Do đó HĐXX x c định mâu thuẫn giữa vợ chồng bà N và ông C đã đến m c trầm trọng không th hòa giải được, tình cảm của bà N dành cho ông C không còn mặc dù đã được Tòa n động viên, t c động nhưng không được, m c đích hôn nhân của vợ chồng không đạt được, nếu tiếp t c chung sống sẽ ảnh hưởng đến s c khỏe và tinh thần của bà N, còn đối với ý kiến của ông C trong bản tự khai và văn bản trình bày ý kiến là không phù hợp với các tình tiết có trong v n do đó HĐXX không chấp nhận các ý kiến này. Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Minh N là có căn c , phù hợp với khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX cần chấp nhận.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà N và ông C có 02 con chung:
1. Ch u tên: Vũ Duy G, sinh ngày 14/8/2008.
2. Ch u tên: Vũ Duy T, sinh ngày 24/4/2012.
Về việc nuôi dưỡng, chăm sóc và gi o d c con chung: HĐXX xét về yêu cầu của bà N có nguyện vọng được nuôi dưỡng và chăm sóc ch u Vũ Duy T HĐXX xét thấy nguyện vọng này là phù hợp với nguyện vọng của ch u T bà N có đủ điều kiện đ chăm sóc và nuôi dưỡng ch u nên cần chấp nhận giao cháu T cho bà N nuôi dưỡng, chăm sóc và gi o d c cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.
Còn đối với yêu cầu của ông Vũ Duy C có nguyện vọng được nuôi dưỡng và chăm sóc hai ch u HĐXX xét thấy, do bà N cũng có đủ điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng ch u Toàn, ch u Toàn cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Q của và nghĩa v của bố mẹ là ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và gi o d c con chung khi ly hôn, nên xét yêu cầu của ông C được nuôi 02 ch u là không phù hợp, xét yêu cầu của ch u G có nguyện vọng được ở với bố, Vậy HĐXX cần gi o ch u G cho ông C chăm sóc nuôi dưỡng và gi o d c khi cháu G đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: C c đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Đặng Minh N và ông Vũ Duy C được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Tuy nhiên, các bên không được lạm d ng việc thăm nom con đ cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo d c con chung. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: C c đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Căn c khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố t ng dân sự, đi m a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội: Nguyên đơn bà Đặng Minh N phải chịu n phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn c vào khoản 3 Điều 26, đi m a khoản 1 Điều 35, đi m a khoản 1 Điều 39, Điều 147, đi m b, Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố t ng dân sự năm 2015. Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đi m a Khoản 5 Điều 27, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Đặng Minh N.
1.Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Minh N được ly hôn với ông Vũ Duy C.
2.Về con chung: Giao cho bà Đặng Minh N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo d c các con chung là Vũ Duy T sinh ngày 24 tháng 4 năm 2012 cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.
Giao cho Ông Vũ Duy C được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, gi o d c các con chung là Vũ Duy G sinh ngày 14 th ng 8 năm 2008 cho đến khi cháu G đủ 18 tuổi.
- Về trợ cấp nuôi con chung: C c đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Đặng Minh N và ông Vũ Duy C được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Tuy nhiên, bà N và ông C không được lạm d ng việc thăm nom con đ cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo d c con chung. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: C c đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét
giải quyết.
4. Về án phí: Bà Đặng Minh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) n phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ng n phí đã nộp theo biên lai thu tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số 0012438 ngày 26 tháng 2 năm 2019 tại Chi c c Thi hành án dân sự huyện Ea Kar.
5. Quyền kh ng c o: B o cho nguyên đơn, được quyền kháng cáo bản n sơ thẩm trong thời hạn luật định 15 ngày, k từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày k từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản n được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện EaKar; - Chi c c THADS huyện EaKar; - UBND xã Cư Yang, huyện Ea Kar; - UBND xã Hồ Tùng Mậu, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên; - C c đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | (đã ký) Nguyễn Minh Ngọc |