vanban.org

Bản án 11/2019/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 29/08/2019 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/08/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận phần rút kháng cáo của ông Lê Ngọc T về quan hệ hôn nhân.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Ngọc T về nuôi con, Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm về nuôi con chung, sửa phần án phí cấp dưỡng. Đình chỉ xét xử phúc thẩm về phần kháng cáo về quan hệ hôn nhân của ông Lê Ngọc T vì rút kháng cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Ph khởi kiện xin ly hôn với ông T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận phần rút kháng cáo của ông Lê Ngọc T về quan hệ hôn nhân.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2019/HNGĐ-PT
Ngày: 03-7-2019
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Nguyễn Quyến

Các"Thẩm"phán:

Bà Lê Thị Minh Trang

Bà Huỳnh Thị Bích Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: ông Lâm Thành Them– Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 03 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2019/TLPT-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2019 về việc "ly"hôn,"tranh"chấp"về"nuôi"con”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số127/2018/HNGĐ-ST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 170/2019/QĐPT-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên"đơn: Bà Trần Thị Mỹ Ph, sinh năm 1990; Nơi cư trú: phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Có mặt

2. Bị"đơn: Ông Lê Ngọc T, sinh năm 1987; Nơi cư trú:phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Có mặt

* Người kháng cáo: Ông Lê Ngọc T

NỘI DUNG VỤ ÁN:

-"Theo"các"tài"liệu"chứng"cứ"có"trong"hồ"sơ"thể"hiện"nguyên"đơn"bà"Trần" Thị"Mỹ"Ph"trình"bày"và"yêu"cầu:""

Bà và ông Lê Ngọc T là vợ chồng hợp pháp, đăng ký kết hôn ngày 25/6/2014 tại Ủy ban nhân dân phường A. Quá trình sống chung đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T hay ghen tuông vô cớ, sống vô trách nhiệm, không chăm sóc vợ con. Bà đã cố gắn tìm biện pháp hàn gắn nhưng không đạt kết quả. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: vợ chồng có một con chung tên Lê Trần Thiện T, sinh ngày 26/4/2015 hiện bà đang nuôi dưỡng, giáo dục. Khi ly hôn yêu cầu được tiếp tục nuôi con và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ.

Về tài sản chung, nợ chung: không có

-"Theo"các"tài"liệu"chứng"cứ"có"trong"hồ"sơ"thể"hiện"bị"đơn"Lê"Ngọc"Tài" trình"bày:

Ông thống nhất lời trình bày của bà Ph về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Nay ông xin được đoàn tụ. Về con chung, nếu Tòa giải quyết cho ly hôn thì xin được nuôi con, không yêu cầu bà Ph cấp dưỡng nuôi con.

Vụ"việc"được"hòa"giải"nhưng"không"thành"nên"đưa"ra"xét"xử."Tại"bản"án" Hôn"nhân"gia"đình""sơ"thẩm"số"12/2018/HNGĐ-ST"ngày"29/11/2018"của"Tòa"án" nhân"dân"quận"Ninh"Kiều"đã"quyết"định:""

Về"hôn"nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Mỹ Ph và ông Lê Ngọc T.

Về"nuôi"con: Giao con chung là cháu Lê Trần Thiện Toàn, sinh ngày 26/4/2015 cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng, ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Toàn đủ 18 tuổi.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau"khi"xét"xử"sơ"thẩm,"ngày"11/12/2018"bị"đơn"kháng"cáo"đề"nghị"cấp" phúc"thẩm"bác"đơn"khởi"kiện"của"nguyên"đơn"và"cho"được"nuôi"con"chung."

Tại"phiên"tòa"hôm"nay:"

- Nguyễn đơn vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện về ly hôn, nuôi con, nhưng không yêu cầu ông Tài cấp dưỡng nuôi con. Bị đơn rút một phần kháng cáo về ly hôn, chỉ kháng cáo yêu cầu được nuôi con. Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn nộp đơn kháng cáo và nộp tạm ứng án phí trong thời gian luật định nên xem xét hợp lệ về mặt hình thức.

Về nội dung kháng cáo: bị đơn kháng cáo yêu cầu được nuôi con nhưng xét thấy cả hai đều có đủ điều kiện nuôi con, để đảm bảo sự phát triển bình thường của con chung nên cần giao cho bà Ph tiếp tục nuôi dưỡng, do đó cần không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: bị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung kháng cáo: ông Lê Ngọc T kháng cáo yêu cầu được đoàn tụ và yêu cầu được nuôi con chung, vì ông còn tình cảm với bà Phương và mâu thuẫn giữa hai vợ chồng không lớn, gia đình đều muốn vợ chồng đoàn tụ.

Về quan hệ hôn nhân, tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Ngọc T rút kháng cáo về quan hệ hôn nhân nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm phần này.

Đối với kháng cáo yêu cầu được nuôi con chung, xét thấy cháu T, sinh ngày 26/4/2015 (án"sơ"thẩm"tuyên"cháu"Toàn"sinh"năm"2014"là"chưa"chính" xác,"cần"điều"chỉnh"lại"phần"này"cho"phù"hợp), hiện bà P nuôi dưỡng; cả hai đều có nguyện vọng nuôi con và có đủ điều kiện nuôi con. Tuy nhiên, từ khi hai vợ chồng ly thân đến nay được bà Ph nuôi dưỡng cháu T, cấp sơ thẩm xác định cháu T đang còn nhỏ, bà Ph chăm sóc nuôi dạy tốt nên để ổn định sự phát triển bình thường của cháu T cần giao cho bà Ph tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa và nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Về cấp dưỡng nuôi còn, tại phiên tòa bà Ph không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử cũng đã phân tích nghĩa vụ của cha mẹ không nuôi con phải cấp dưỡng nuôi con, nhưng bà Ph không yêu cầu, ông T không tự nguyện, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của bà Ph và không buộc ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Đối với án phí cấp dương nuôi con, do bà Ph không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, ông T chưa phải cấp dương nên không phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con, cần sửa phần án phí này, đây là nguyên nhân khách quan. Đối với án phí phúc thẩm, kháng cáo của ông T không được chấp nhận nên ông T phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Chấp nhận phần rút kháng cáo của ông Lê Ngọc T về quan hệ hôn nhân.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Ngọc T về nuôi con, Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm về nuôi con chung, sửa phần án phí cấp dưỡng.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm về phần kháng cáo về quan hệ hôn nhân của ông Lê Ngọc T vì rút kháng cáo.

2." Về" nuôi" con: Giao con chung là cháu Lê Trần Thiện T, sinh ngày 26/4/2015 cho bà Trần Thị Mỹ Ph trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Ph không yêu cầu ông Lê Ngọc T cấp dưỡng nuôi con.

Ông Lê Ngọc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con hoặc người nuôi con.

3.Về án phí:

- Về án phí sơ thẩm: Ông Lê Ngọc T không phải chịu án phí cấp dưỡng.

- Về án phí phúc thẩm: Ông T phải chịu 300.000đ, được khấu từ được khấu trừ 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 000691 ngày 11/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều.

4. Các quyết định khác của án sơ thẩm có hiệu lực thi hành, bao gồm: Về quan hệ hôn nhân, quan hệ tài sản, án phí sơ thẩm ly hôn.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Minh Trang – Huỳnh Thị Bích Vân

Nguyễn Quyến

Cỡ chữ