vanban.org

Bản án 11/2018/TCDS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

Trong trường hợp ông Đỗ Văn C không trả nợ hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Q, tỉnh Quảng Bình thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Q, tỉnh Quảng Bình có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng NN và PTNT khởi kiện ông Đỗ Văn C"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2018/TCDS-ST
Ngày: 09 - 11 - 2018
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Ba,

2. Bà Hoàng Thị Tường Vy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Triều, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 15/2018/TLST-TCDS, ngày 07 tháng 8 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10a/2018/QĐXXST - DSST ngày 04/10/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank);

Địa chỉ: Số V, Trần Hữu D, khu đô thị M, huyện Từ L, Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Ngọc K – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Quang Đ – Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi nhánh huyện Q (theo Quyết định số 510/QĐ-HĐTV-PC ngày 19 tháng 6 năm 2014 về việc ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án của chủ tịch hội đồng thành viên Agribank). Ông Đ, có mặt.

2. Bị đơn: Ông Đỗ Văn C,

Địa chỉ: Thôn V, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ông Đỗ Ngọc S; địa chỉ: Thôn V, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 10/10/2017 và bản tự khai (Bút lục 01, 02 và 51), đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (gọi tắt là Agribank) - ông Lê Quang Đ trình bày:

Ngày 11/7/2017, ông Đỗ Văn C đứng tên vay vốn Agribank - Chi nhánh huyện Q tại Hợp đồng tín dụng số 3803-LAV-201701721, số tiền cho vay 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng), thời hạn cho vay là 60 tháng, kể từ ngày 11/7/2017, lãi suất 10,5%/năm; định kỳ trả nợ 06 tháng/kỳ vào ngày 11 hàng tháng. Mục đích sử dụng vốn vay: Sửa chữa cải tạo nhà ở, người thừa kế trả nợ là ông Đỗ Ngọc S là con của ông Đỗ Văn C.

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ vay, ông Đỗ Văn C đã sử dụng tài sản tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 356/2017/HĐTC ngày 10 tháng 7 năm 2017 đã ký giữa Agribank – Chi nhánh huyện Q và ông Đỗ Văn C, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BB56036, có diện tích 122m2, thuộc thửa đất số 193(d), tờ bản đồ số 5 do UBND huyện Q cấp ngày 28/12/2010 đứng tên ông Đỗ Văn C, vị trí lô đất thôn V, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Sau khi vay tiền vào ngày 09/4/2018, ông C đã trả cho Agribank, Chi nhánh huyện Q số tiền lãi 10.080.000 đồng, tiền gốc: Không đồng. Từ ngày 10/4/2018 đến nay, ông C không trả gốc và lãi cho Agribank theo thỏa thuận.

Để đảm bảo việc thu hồi nợ vay cho Nhà nước, Agribank - Chi nhánh huyện Q đề nghị Tòa án huyện Quảng Ninh buộc ông Đỗ Văn C phải thanh toán cho Agribank - Chi nhánh huyện Q, tỉnh Quảng Bình tính đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền 298.714.623 đồng (Hai trăm chín mươi tám triệu bảy trăm mười bốn nghìn sáu trăm hai ba đồng), trong đó nợ gốc 270.000.000đồng, nợ lãi là 28.714.623 đồng (nợ lãi trong hạn 28.192.500 đồng; nợ lãi quá hạn 522.123 đồng) và số tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký giữa Agribank - Chi nhánh huyện Q, tỉnh Quảng Bình và ông Đỗ Văn C cho đến ngày ông Đỗ Văn C trả nợ xong cho Agribank

- Chi nhánh huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Trường hợp ông Đỗ Văn C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Agribank - Chi nhánh huyện Q đề nghị Tòa án tuyên xử lý tài sản để thu hồi nợ vay gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BB 056036, có diện tích 122m2, thuộc thửa đất số 193 (d), tờ bản đồ số 05 do UBND huyện Q cấp ngày 28/12/2010.

Bị đơn ông Đỗ Văn C, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Ngọc S đã được Tòa án triệu tập nhiều lần, nhưng không có mặt để trình bày ý kiến về việc Agribank - Chi nhánh huyện Q khởi kiện. Ngày 19 tháng 9 năm 2018, Agribank đã nộp đơn yêu cầu Tòa án điều tra xác minh nơi cư trú của ông C, anh S. Tại biên bản xác minh ngày 02 tháng 10 năm 2018, Công an xã L, huyện Q cung cấp ông Đỗ Văn C, anh Đỗ Ngọc S đi làm ăn tự do, thỉnh thoảng về nhà. Bố đẽ ông Đỗ Văn C là ông Đỗ Văn S xác nhận ông C đi làm ăn ở huyện T, thỉnh thoảng có về nhà, ông S nhận các loại Thông báo, Giấy triệu tập của Tòa án và đã thông báo cho ông C biết nhưng ông C không chấp hành. Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, do một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phát sinh tranh chấp, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh.

Về người tham gia tố tụng: Tòa án xác định đúng người tham gia tố tụng. Việc xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định của pháp luật.

Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về hướng giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Đỗ Văn C có trách nhiệm trả cho Agribank - Chi nhánh huyện Q số tiền gốc 270.000.000 đồng, tiền lãi là 28.714.623 đồng (tiền lãi trong hạn 28.192.500 đồng; tiền lãi quá hạn 522.123 đồng). Trường hợp ông Đỗ Văn C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Agribank - Chi nhánh huyện Q đề nghị Tòa án tuyên xử lý tài sản để thu hồi nợ vay gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BB 056036, có diện tích 122m2, thuộc thửa đất số 193 (d), tờ bản đồ số 05 do UBND huyện Q cấp ngày 28/12/2010.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam khởi kiện bị đơn ông Đỗ Văn C yêu cầu thanh toán tiền vay do vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện Q. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật nhưng ông Đỗ Văn C và anh Đỗ Ngọc S vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C, anh S.

[3] Về nội dung vụ án:

Xét theo nội dung hợp đồng tín dụng vay tiền, yêu cầu trả nợ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank): Ngày 11 tháng 7 năm 2017, ông Đỗ Văn C đã ký Hợp đồng tín dụng với Agribank - Chi nhánh huyện Q để vay số tiền 270.000.000 đồng, mục đích sửa chữa, cải tạo nhà ở. Đến ngày 11 tháng 01 năm 2018, đến kỳ hạn trả nợ nhưng ông C không trả, ngày 09 tháng 4 năm 2018, ông C đã trả lãi 10.080.000 đồng. Sau đó, ông C không trả gốc và lãi, Agribank – Chi nhánh huyện Q đã nhiều lần thông báo nợ quá hạn, vi phạm hợp đồng, xử lý tài sản đảm bảo, đôn đốc, kiểm tra, yêu cầu ông C trả nợ, ông C vẫn không có thiện chí trả. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm ông Đỗ Văn C còn nợ Agribank – Chi nhánh huyện Q tổng số tiền 298.714.623 đồng (Hai trăm chín mươi tám triệu bảy trăm mười bốn nghìn sáu trăm hai ba đồng), trong đó nợ gốc 270.000.000 đồng, nợ lãi là 28.714.623 đồng (Nợ lãi trong hạn 28.192.500 đồng; nợ lãi quá hạn 522.123 đồng).

Xét hợp đồng vay vốn giữa nguyên đơn với bị đơn được giao kết hợp pháp nên phát sinh hiệu lực, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng, đầy đủ các điều khoản đã cam kết. Nhưng vì bị đơn vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên việc khởi kiện và yêu cầu bị đơn phải trả nợ cho nguyên đơn là có căn cứ theo quy định tại các điều 463, 466 của Bộ luật dân sự và theo thỏa thuận Điều 4 của Hợp đồng tín dụng số 3803-LAV-2017.

Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 3803-LAV-201701721 ngày 11/7/2017 mà hai bên đã ký kết, nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận lãi suất của hợp đồng vay 10,5%/năm. Thỏa thuận lãi suất này không vượt quá và đúng quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết. Hội đồng xét thấy rằng, sau khi vay tiền cho đến nay, ông C vẫn chưa trả nợ gốc cho Agribank – Chi nhánh huyện Q là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn tại hợp đồng đã ký kết giữa các bên. Sau kỳ hạn trả nợ cuối cùng ông C không thanh toán nợ cho Agribank nên Agribank chuyển thành nợ quá hạn và tính lãi suất theo mức lãi suất nợ quá hạn là phù hợp với quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng. Như vậy, yêu cầu của Nguyên đơn về tiền lãi là có căn cứ nên cần được xem xét chấp nhận, buộc ông C phải trả cho Agribank - Chi nhánh huyện Q số tiền lãi là 28.714.623 đồng, trong đó nợ lãi trong hạn 28.192.500 đồng, nợ lãi quá hạn 522.123 đồng.

Về yêu cầu của Agribank trong trường hợp ông Đỗ Văn C không trả được số nợ trên thì đề nghị Tòa án tuyên xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ. Hội đồng xét xử nhận thấy, khi vay tiền để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng vay vốn, giữa Agribank với ông C có giao kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 356/2017/HĐTC ngày 10/7/2017, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BB 056036, có diện tích 122m2, thuộc thửa đất số 193 (d), tờ bản đồ số 05 do UBND huyện Quảng Ninh cấp ngày 28/12/2010. Căn cứ vào các điều 318, 319, 325 của Bộ luật dân sự; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 7 của Hợp đồng tín dụng số 3803-LAV-201701721 ngày 11/7/2017; Điều 5 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 356/2017/HĐTC ngày 10/7/2017, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Agribank.

[4] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị định 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc ông C phải nộp 14.935.700 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 773 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 318, 319, 325, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự 2015; các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Buộc ông Đỗ Văn C có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Q, tỉnh Quảng Bình số tiền 298.714.623 đồng (Hai trăm chín mươi tám triệu bảy trăm mười bốn nghìn sáu trăm hai ba đồng), trong đó nợ gốc 270.000.000đồng, nợ lãi 28.714.623 đồng (nợ lãi trong hạn 28.192.500 đồng; nợ lãi quá hạn 522.123 đồng).

2. Trong trường hợp ông Đỗ Văn C không trả nợ hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Q, tỉnh Quảng Bình thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Q, tỉnh Quảng Bình có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 356/2017/HĐTC ngày 10/7/2017, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BB 056036, có diện tích 122m2, thuộc thửa đất số 193 (d), tờ bản đồ số 05 do UBND huyện Quảng Ninh cấp ngày 28/12/2010 mang tên Đỗ Văn C tại thôn V, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

3. Về án phí sơ thẩm: Buộc ông Đỗ Văn C phải nộp 14.935.700 đồng (Mười bốn triệu chín trăm ba mươi lăm nghìn bảy trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam được nhận lại 7.720.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0004641 ngày 07/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ