- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Quỹ tín dụng nhân Vĩnh Chánh (do ông Lê Viết A đại diện).
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 11/2018/KDTM-ST Ngày 21/8/2018. Về việc: “Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN
- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Quốc Hùng;
2. Bà Lê Thị Thường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dự; Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham dự phiên tòa: Không tham gia.
Vào ngày 21 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, An Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ kiện Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 14/2018/TLST-KDTM ngày 10 tháng 5 năm 2018, về việc “Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 321/2018/QĐST-KDTM ngày 25/7/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân V;
Địa chỉ: Tổ 02 ấp Đ, xã V, huyện T, An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Viết A sinh 1959, Cán bộ tín dụng của Quỹ tín dụng nhân dân V. Theo văn bản ủy quyền ngày 23/4/2018.
2. Bị đơn:
2. 1. Ông Ngụy Nam S, sinh năm 1947;
2. 2. Bà Võ Thị H, sinh năm 1955;
Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện T, An Giang.
(vắng mặt bị đơn vợ chồng ông Ngụy Nam S, bà Võ Thị H; Đã tống đạt
hợp lệ)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân V ngày 23/4/2018 và lời khai của ông Lê Viết A (đại diện theo ủy quyền) trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà có nội dung như sau: Quỹ tín dụng nhân dân V (viết tắt là tín dụng V) có ký hợp đồng tín dụng số 0316.07/HĐTD ngày 07/9/2016 cho vợ chồng ông Ngụy Nam S, bà Võ Thị H vay số tiền 165.000.000đ, thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất 1,17 %/tháng (quá hạn 150%) và trả vốn lãi cuối kỳ; Mục đích vay là bổ sung vốn kinh doanh và đến ngày 29/6/2017 ký phụ lục hợp đồng vay thêm 15.000.000đ nên tổng nợ là 180.000.000đ. Khi vay vợ chồng ông S, bà H có thế chấp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A139357 (số vào sổ 00030QSDĐ/lH) cấp ngày 21/11/1990 với diện tích 5.302m2 loại đất 02 Lúa theo hợp đồng thế chấp số 310.07/HĐTC ngày 06/10/2015. Từ khi vay đến nay ông S, bà H chỉ trả lãi được số tiền 52.193.800đ, riêng số vốn và lãi quá hạn đến nay vẫn chưa thanh toán cho Quỹ tín dụng.
Nay Quỹ tín dụng nhân dân V yêu cầu ông Ngụy Nam S, bà Võ Thị H trả số nợ vốn đã vay là 180.000.000đ cùng với lãi suất phát sinh trong hạn, quá hạn tạm tính đến ngày 21/8/2018 là 1.895.400đ, đồng thời tính lãi phát sinh theo hợp đồng đến khi thanh toán xong.
* Về phía bi đơn ông Ngụy Nam S, bà Võ Thị H thì: Tòa án đã nhiều lần gửi Thông báo, giấy mời đến Tòa án để tạo điều kiện cho gặp phía đại diện nguyên đơn và các đương sự trong vụ án để hòa giải và đối chiếu các khoản nợ nhưng tất cả các lần vợ chồng đều vắng mặt không lý do. Qua thu thập chứng cứ xác định được rằng ông Ngụy Nam S, bà Võ Thị H có hộ khẩu thường trú tại địa phương thuộc Ấp V, xã V, huyện T, An Giang và hiện tại vẫn có mặt tại địa phương, các giấy tờ và Thông báo của Tòa án gửi thì vợ chồng có ký nhận nhưng vẫn không có mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:
Về tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng, các bên cùng mục đích lợi nhuận nên thuộc khoản 1 Điều 30 và căn cứ Điều 35, khoản 1 Điều 39 của BLTTDS năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, phía bị đơn ông Ngụy Nam S, bà Võ Thị H vắng mặt không lý do nhưng đã tống đạt hợp lệ nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa.
Về nội dung:
Về quan hệ hợp đồng tín dụng: Xét hợp đồng tín dụng số 0316.07/HĐTD ngày 07/9/2016 được ký kết giữa Quỹ tín dụng nhân dân V với ông Ngụy Nam S, bà Võ Thị H có nội dung: Ông ông S, bà H vay của tín dụng V số tiền tổng cộng 180.000.000đ, thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất 1,17 %/tháng (quá hạn 150%) và trả vốn lãi cuối kỳ; Hợp đồng đã được hai bên ký kết trên cơ sở tự nguyện và phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91, Điều 94 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có giá trị pháp lý buộc các bên phải thực hiện. Phía đại diện tín dụng V yêu cầu ông S, bà H thanh toán vốn còn nợ 180.000.000đ và lãi suất phát sinh, trong khi ông S, bà H không có ý kiến phản bác về yêu cầu của tín dụng V và cũng không cung cấp chứng cứ khách quan chứng minh đã thanh toán xong số nợ nêu trên. Vì vậy, yêu cầu trả nợ của phía tín dụng V là có căn cứ nên được chấp nhận và buộc ông Ngụy Nam S, bà Võ Thị H có trách nhiệm trả số tiền vốn đã vay 180.000.000đ và toàn bộ lãi suất phát sinh trong hạn, quá hạn theo bản chiết tính ngày 20/8/2018 do phía tín dụng V đã tính toán, cung cấp tổng cộng là 1.895.400đ.
Về hợp đồng thế chấp tài sản: Xét hợp đồng thế chấp số 310.07/HĐTC ngày 06/10/2015 được ký kết giữa Quỹ tín dụng nhân dân V với ông S, bà H có nội dung: Ông Ngụy Nam S, bà Võ Thị H đồng ý thế chấp toàn bộ diện tích 5.302m2 loại đất 02 Lúa (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00030QSDĐ/lH do UBND huyện Thoại Sơn cấp ngày 21/11/1990) để đảm bảo số tiền đã vay vốn, lãi và các khoản phí theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Về nội dung, hình thức của hợp đồng đã được công chứng, đăng ký thế chấp, đã tuân thủ đúng theo các quy định tại Điều 317, Điều 319 của BLDS năm 2015 và đến thời điểm này không bên nào có tranh chấp về các điều khoản trong hợp đồng và đồng thời không có bên thứ ba khiếu nại. Do đó, hợp đồng thế chấp số 310.07/HĐTC ngày 06/10/2015 có giá trị pháp lý và sẽ được duy trì, phát mãi để ưu tiên đảm bảo cho khoản nợ đã được thỏa thuận thế chấp trong hợp đồng. Ngoài ra, phía quỹ tín dụng V yêu cầu tính lãi suất phát sinh theo hợp đồng trên số nợ gốc 180.000.000đ đến khi thanh toán xong số nợ, đây là yêu cầu phù hợp nên được chấp nhận.
Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do ông Ngụy Nam S, bà Võ Thị H bị buộc trả nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân V nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 179, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của BLTTDS 2015; Điều 317 và Điều 319 của BLDS năm 2015; Khoản 2 Điều 91, Điều 94, khoản 2 Điều 95 của luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Xử:
+ Chấp nhận yêu cầu của Quỹ tín dụng nhân Vĩnh Chánh (do ông Lê Viết A đại diện). Buộc ông Ngụy Nam S, bà Võ Thị H có trách nhiệm trả cho Quỹ tín dụng nhân dân V số tiền vốn, lãi tổng cộng là 181.895.400đ (Một trăm tám mươi một triệu tám trăm chín mươi lăm ngàn bốn trăm đồng).
+ Ông Ngụy Nam S, bà Võ Thị H còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh với mức lãi suất nợ quá hạn trên số nợ gốc 180.000.000đ theo hợp đồng tín dụng số 0316.07/HĐTD ngày 07/9/2016, kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.
+ Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 310.07/HĐTC ngày 06/10/2015 đối với tài sản đã thế chấp để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Về án phí, lệ phí sơ thẩm:
+ Ông Ngụy Nam S, bà Võ Thị H phải chịu 9.094.000đ tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
+ Quỹ tín dụng nhân Vĩnh Chánh không phải chịu án phí nên được hoàn lại 4.500.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo phiếu thu số 0001134 ngày 10/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, An Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho các đương sự có mặt tham dự phiên tòa biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án (có lý do chính đáng) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh An Giang. - VKSND H.Thoại Sơn. - Chi cục THADS H.Thoại Sơn. - Các đương sự (Để thi hành). - Lưu văn phòng. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |