| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2018/KDTM-PT Ngày 26-9-2018 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quang
Các Thẩm phán:
Ông Cao Minh Vỹ
Ông Đoà n Ngọ c Thiệ n
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Tình– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Bà Lương Thị Yế n – Kiểm sát viên.
Ngày 26/9/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại phúc thẩm thụ lý số 02/2018/TLPT-KDTM ngày 29/01/2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2017/KDTM-ST ngày 27/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện L bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 04/2018/QĐ-PT ngày 08/3/2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2018/QĐ-PT ngày 28/3/2018; Thông báo mở lại phiên tòa số 01/2018/TB-TA ngày 29/8/2018; Quyế t đị nh hoãn phiên tòa số 19/2018/QĐ-PT ngà y 19/9/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B (viế t tắ t Ngân hàng B).
Địa chỉ: Đường V, quậ n K, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Xuân H, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng B Chi nhánh Bà Rịa – Vũng Tàu (theo Văn bản ủy quyền số 8695/QĐ-BIDV ngày 28/10/2016 – vắ ng mặ t).
Ông H ủy quyền lại cho ông Trần Quyết Q, chức vụ: Phó Giám đốc Phòng Giao dịch Vũng Tàu (theo Văn bản ủy quyền số 249/UQ-BIDV.BRVT-QLRR ngày 19/9/2018 – có mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim K, sinh năm 1979 (vắ ng mặ t).
Địa chỉ: Tổ B, khu phố M, thị trấn X, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bà K ủy quyề n tham gia tố tụ ng cho: bà Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1957 (theo Văn bản ủy quyền ngày 15/6/2018 đượ c UBND thị trấn X số 329 quyể n số 01/2018-SCT/CK, ĐC ngày 15/6/2018 - có mặt).
Địa chỉ: khu phố M, thị trấn X, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn D, sinh năm 1978 (vắ ng mặ t).
Địa chỉ: Tổ B khu phố M, thị trấn X, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Ông D ủy quyề n tham gia tố tụ ng cho : bà Nguyễn Thị N gọc N , sinh năm 1957 (theo Văn bản ủy quyền ngày 15/6/2018 đượ c UBND thị trấn X số 329 quyể n số 01/2018-SCT/CK, ĐC ngày 15/6/2018 - có mặt).
Địa chỉ: khu phố M, thị trấn X, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Ngườ i khá ng cá o: Bà Nguyễn Thị Kim K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Quyết Q trình bày:
Ngày 24/6/2011, bà K và ông D (chồng bà K) đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 000708/2011/HĐTC (BL 21-25) thế chấp diện tích đất 165,3m2 thuộc thửa 26662.130.287, tờ bản đồ 130 tọa lạc tại thị trấn X, huyện L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 930306 do UBND huyện L cấp ngày 17/3/2008 đứ ng tên bà Nguyễn Thị Kim K cho Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu. Theo “Biên bản định giá” ngày 24/6/2011 (BL 15) thì giá trị tài sản thế chấp là 400.000.000đ. Hợp đồ ng thế chấ p đ ược công chứng ngày 27/6/2011 tại Phòng Công chứng P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và tài sản thế chấp đ ược đăng ký giao dị ch bả o đả m tạ i Văn phò ng Đăng ký quyề n s ử dụng đất huyện L theo Đơn yêu cầ u đăng ký thế chấp được xác nhận ngày 28/6/2011 (BL 16).
Ngày 29/6/2011, bà K ký Hợp đồng tín dụng số 4172878 (BL 31-32) vay của Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu 300.000.000đ; thời hạn vay 12 tháng; lãi suất 20,5%/năm, thay đổi 1 quý 1 lần vào ngày 01 của các tháng đầu quý theo thông báo lãi suất của Ngân hàng B tại thời điểm điều chỉnh; lãi quá hạn = 150% lãi suất cho vay; mục đích vay kinh doanh hải sản; lãi trả đị nh kỳ và o ngà y 22 hàng tháng, gốc trả cuối kỳ.
Ngày 29/6/2011, bà K đã nhận đủ số tiền vay 300.000.000đ theo Bảng kê rút vốn ngày 29/6/2011 (BL 30a) và Giấy lĩnh tiền mặt (BL 115).
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà K đã vi phạm các cam kết về nghĩa vụ trả nợ tại hợp đồng tín dụng như đã thỏa thuận. Đến nay bà K chưa trả được phần nợ gốc và nợ lãi nào, Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu đã đôn đốc nhiều lần nhưng bà K vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hà ng B đã khởi kiện yêu cầu bà K phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi tổ ng cộ ng là 688.829.167đ, trong đó nợ gốc là 300.000.000đ, lãi trong hạn là 58.754.167đ, lãi quá hạn là 330.075.000đ (tính đến ngày xét xử sơ thẩm 27/11/2017). Ngoài ra, bà K còn phải trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 28/12/2017 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp bà K không trả được nợ thì Ngân hà ng B có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự bán đấu giá toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Trường hợp số tiền bán đấu giá không đủ trả nợ thì bà K phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán xong khoản vay.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị Kim K đồng thời là đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn D là bà Nguyễn Thị Ngọc N trình bày:
Bà K thừa nhận ngày 29/6/2011 có ký hợp đồng tín dụng vay của Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu 300.000.000đ, với thời hạn, lãi suất, mục đích vay và thế chấp tài sản đảm bảo như đại diện Ngân hà ng B trình bày. Tuy nhiên, thực tế bà K không nhận được số tiền vay mà Ngân hà ng B Bà R ịa – Vũng Tàu đã tự ý chuyển số tiền trên để trả nợ thay cho Doanh nghiệ p tư nhân Y (viế t tắ t là Doanh nghiệ p Y) tại Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu, thể hiện tại tờ sao kê tài khoản thanh toán khách hàng của Doanh nghiệ p Y phát sinh có số tiền 300.000.000đ cùng với ngày bà K ký vay tiền, tại giấy lĩnh tiền mặt (photo) ngày 29/6/2011 do Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu cung cấp có chữ ký của bà K nhưng là chữ ký photo vì bà K không lĩnh tiền mặt nên không ký vào giấy này. Do đó, bà K không đồng ý trả nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hà ng B Bà R ịa – Vũng Tàu và cũng không đồng ý việc xử lý tài sản thế chấp, đồng thời yêu cầu giám định chữ ký của bà Nguyễn Thị Kim K tại Giấy lĩnh tiền mặt ngày 29/6/2011 và giám định chữ ký của ông Nguyễn Tấn Y tại giấy nộp tiền mặt ngày 29/6/2011.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2017/KDTM-ST ngày 27/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện L đã áp dụng các Điều 30, 147, 157, 161 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án, tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng B về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng số 4172878 ngày 29/6/2011 với bà K như sau:
- Bà K phải thanh toán cho Ngân hàng B tổ ng cộ ng là 688.829.167 (sáu trăm tám mươi tá m triệ u , tám trăm hai m ươi bố n ngà n , mộ t trăm sá u m ươi bẩ y đồ ng ), trong đó gồ m 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) tiề n gố c và lã i tí nh đến ngày 27/11/2017 là 388.829.167đ (ba trăm tá m m ươi tá m triệ u , tám trăm hai mươi bố n ngàn, mộ t trăm sá u mươi bẩ y đồ ng). Bà K phải tiếp tục chị u lãi suấ t trên số n ợ gố c cho Ngân hàng B kể từ ngày 28/11/2017 theo lã i suấ t được thỏ a thuậ n hợp đồng tín dụng số 4172878 ngày 29/6/2011 cho đến khi tấ t toá n hết nợ gố c.
- Trường hợp bà K không trả được nợ thì Ngân hàng B có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bá n đấ u giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 000708/2011/HĐTC ngày 24/6/2011 đối với thửa đất số 287 tờ bản đồ 130 thị trấn X, huyện L, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 930306 ngày 17/3/2008 do UBND huyện L cấp cho bà Nguyễn Thị Kim K.
- Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về c hi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ, giám định, án phí, thờ i hiệ u thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 06/12/2017, bà K có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2017/KDTM-ST ngày 27/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện L vớ i lý do: Tuy bà K ký đã tên trên các chứng từ nhận tiền trước khi được giải ngân theo yêu cầu của Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu nhưng thực tế bà K không nhận được tiền vì Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu đã dùng số tiền này đem cấn trừ trả vào tài khoản của Doanh nghiệ p Y . Vì vậy, Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu không có chứng từ “Bảng kê chi tiền mặ t” bà K nhận tiền. Ngân hàng B Bà Rịa – Vũng Tàu đợi đến tháng 7/2017 mới khởi kiện (theo quy định của ngân hàng thì sau 05 năm lưu trữ các chứng từ này sẽ bị hủy) bà K để đưa ra lý do không cung cấp được các chứng từ này cho Tòa án là không đúng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bà N đại diện theo ủy quyền của bà K xác nhận Hợp đồng thế chấp bất động sản số 000708/2011/HĐTC ngày 24/6/2011 (BL 21-25); Hợp đồng tín dụng số 4172878 ngày 29/6/2011 (BL 31-32); “Bả ng kê rú t vố n” ngày 29/6/2011 (BL 30a) và “Giấy lĩnh tiền m ặt” ngày 29/6/2011 (BL 115) đều là ch ữ viế t và ch ữ ký của bà K. Tuy nhiên bà K cho rằng Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu đã lừa bà K ký trước chứng từ nhận tiền vay 300.000.000đ mà không giao 300.000.000đ cho bà K, lại cấn trừ số tiề n nà y trả nợ vào tài khoản của Doanh nghiệ p Y do ông Y (là em ruộ t củ a bà K) là chủ doanh nghiệp đang có khoả n vay tạ i Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu, nên trong tà i khoả n củ a Doanh nghiệ p Y phát sinh “có” 300.000.000đ vào cùng ngày 29/6/2011, do đó Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu không có “Bảng kê chi tiền mặt” chứ không phả i “Bảng kê chi tiền mặt” đã hết thời gian lưu trữ nên bị tiêu hủy nh ư đại diện Ngân hà ng B trình bày ; bà K không nhậ n tiề n vay 300.000.000đ nhưng á n sơ thẩ m không đưa bộ phậ n liên quan củ a Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu vào tham gia tố tụng và không tiến hành giám định chữ ký của ông Y trong “Giấ y nộ p tiề n mặ t” vào tài khoản của Doanh nghiệ p Y cùng ngày 29/6/2011 là vi phạm tố tụng nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩ m để điề u tra xé t xử lạ i.
- Ông Q đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a Ngân hà ng B có quan điểm: Bà K thừ a nhậ n đã ký hợp đồng thế chấp , hợp đồng tín dụng, “Bả ng kê rú t vố n” , và “Giấ y lĩnh tiền mặt”. Quá trình thực hiện tí n dụ ng cho đế n khi Ngân hà ng B khở i kiệ n, bà K đều không có bất cứ khiếu nại
thắ c mắ c gì về việc không nhậ n đượ c 300.000.000đ tiề n vay là vô lý . Do đó đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử phú c thẩ m không chấ p nhậ n đơn khá ng cá o củ a bà K, giữ nguyên bả n á n sơ thẩ m.
- Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân tỉ nh Bà Rị a – Vũng Tàu có quan điểm : Việ c tuân theo phá p luậ t củ a nhữ ng ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng và nhữ ng ngườ i tham gia tố tụ ng về cơ bả n thự c hiệ n đú ng quy đị nh củ a phá p luậ t , thờ i gian hoã n phiên tòa còn kéo dài . Về nộ i dung , căn cứ và o hồ sơ thì bà K đã ký nhậ n số tiề n vay 300.000.000đ. Bà K kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứ ng minh nên không có căn cứ để chấ p nhậ n , do đó đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử phú c thẩ m giữ nguyên bả n á n sơ thẩ m.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒ A Á N
1. Quan hệ giữ a các đương sự trong vụ á n và quan hệ vay tà i sả n củ a cá c đương sự tạ i Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu:
- Bà K và ông Nguyễ n Tấ n Y (chủ Doanh nghiệ p Y) đều là con đẻ của bà N.
- Theo bà K tại thời điểm bà K vay tiề n củ a Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu theo Hợp đồng tín dụng số 4172878 ngày 29/6/2011, thì Doanh nghiệ p Y do ông Y là chủ doanh nghiệp cũng có một khoản vay tại Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu.
2. Tính có liên quan của các chứng từ liên quan đến hoạt động tín dụng cầ n đượ c lưu trữ theo hợ p đồ ng tí n dụ ng trong hồ sơ tí n dụ ng: Về nguyên tắ c thì quy trì nh và trì nh tự thủ tụ c củ a mộ t hồ sơ tí n dụ ng đượ c xem là hoà n tấ t đượ c thể hiệ n ở khâu cuố i cù ng tạ i “Bảng kê chi tiền mặ t” của bên cho vay có chữ ký nhận của bên vay , thể hiệ n cá c nộ i dung : Số tiề n bên vay đượ c nhậ n là bao nhiêu ? bên vay nhậ n mấ y loạ i tiề n ? mỗ i loạ i tiề n có mệ nh giá bao nhiêu? và tổng các loại tiền có mệnh giá phải tương ứ ng vớ i tổ ng số tiề n mà bên vay được nhậ n. Theo ông Q đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a Ngân hà ng B thì quá trình Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu cho bà K vay tiề n đã thực hiện đủ, đú ng thủ tụ c và có “Bảng kê chi tiền mặ t”. Nhưng căn cứ và o “Bả ng thờ i hạ n bả o quả n hồ sơ tà i liệ u trong ngà nh Ngân hà ng” kèm theo Thông tư số 43/2011/TT-NHNN ngà y 20/12/2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì “Bảng kê chi tiền mặ t” ngày 29/6/2011 có chữ ký nhận tiền của bà K đã quá thờ i hạ n lưu trữ , nên đã bị tiêu hủ y. Xét thấy, do đặ c thù củ a hệ thố ng tín dụng ngân hàng là quản lý và kinh doanh tiền tệ nên có rất nhiều loại giao dịch tiề n tệ khác nhau, do đó việ c phân đị nh và lưu trữ các chứng từ tài liệu là phải dựa trên nguyên tắ c đả m bả o tí nh có liên quan . Đồng thời, thờ i hạ n lưu trữ là đượ c tính kể từ khi giao dị ch hoàn tấ t. Tuy nhiên trên thự c tế thì “Bảng kê chi tiền mặ t” ngày 29/6/2011 của bà K không phả i là một giao dịch đơn lẻ độc lập , bà K rút tiền mặt có trong tài khoản của bà K tại Ngân hàng B Bà Rịa – Vũng Tàu, mà “Bảng kê chi tiền mặ t” ngày 29/6/2011 là chứng từ cuối cùng thể hiện kế t quả của quá trình thẩ m đị nh xé t duyệ t cho vay của mộ t hồ sơ tí n dụ ng. Mặc dù hồ sơ tín dụng này đã hế t thờ i hạ n vay nhưng chưa đượ c tấ t toá n , nên thờ i điể m lưu trữ theo Thông tư số 43/2011/TT-NHNN ngà y 20/12/2011 chưa đượ c tính để áp dụng thời hạn lưu trữ . Về nguyên tắ c thì “Bảng kê chi tiền mặ t” ngày 29/6/2011 có chữ ký nhận tiền của bên vay là bà K phải được lưu trữ kèm theo H ợp đồng tín dụng số 4172878 ngày 29/6/2011 trong hồ sơ tí n dụng này nên việ c Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu không lưu trữ “Bảng kê chi tiền mặ t” ngày 29/6/2011 kèm theo Hợ p đồ ng tí n dụ ng số 4172878 ngày 29/6/2011 và không cung cấ p đượ c “Bảng kê chi tiền mặ t” ngày 29/6/2011 có chữ ký của bà K đã nhận số tiền vay 300.000.000đ là có thiếu sót.
3. Xét kháng cáo của bà K về việ c không nhậ n đượ c tiề n vay của Hợp đồng tín dụng số 4172878 ngày 29/6/2011 nên không đồ ng ý trả vợ gố c và lã i theo yêu cầ u củ a Ngân hà ng B: Mặ c dù Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu không thự c hiệ n đú ng quy đị nh về việ c lưu trữ “Bảng kê chi tiền mặ t” ngà y 29/6/2011 theo hồ sơ tí n dụ ng , nhưng việ c bà K từ chố i trá ch nhiệ m trả nợ gố c và lã i theo Hợp đồng tín dụng số 4172878 ngày 29/6/2011 là không có sức thuyết phục bởi các lý do sau:
- Quá trình giải quyết vụ án tại cấp s ơ thẩ m, ban đầ u bà N không thừ a nhậ n chữ ký và ch ữ viế t của bà K trong “Giấ y lĩ nh tiề n m ặt” ngày 29/6/2011 của Ngân hàng B Bà Rịa – Vũng Tàu (BL 115), nên đã có đơn yêu cầ u giá m đị nh chữ ký , chữ viế t củ a bà K trong “Giấ y lĩ nh tiề n m ặt” ngày 29/6/2011 này. Tại Kết luận giám định số 4304 (BL 213) ngày 21/11/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có nội dung: Chữ ký và ch ữ viế t trong “Giấ y lĩ nh tiề n mặt” ngày 29/6/2011 của Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu (BL 115) là do cùng một người (tức bà K) viết, ký ra. Do đó quá trì nh giả i quyế t tiế p theo bà N đã thừ a nhậ n chữ ký và chữ viế t trong “Giấ y lĩ nh tiề n mặt” ngày 29/6/2011 là của bà K.
- Theo quy đị nh củ a phá p luậ t thì thờ i điể m xá c nhậ n nợ vay tạ i cá c tổ chứ c tín dụng ngân hàng được xác định là tại thời điểm mà bên vay ký vào “Giấy lĩnh tiề n mặ t” củ a bên cho vay . Căn cứ và o bú t lụ c 115 TA, thì bà K đã ký nhậ n 300.000.000đ dướ i mụ c “Ngườ i lĩ nh ký ” trong
“Giấ y lĩ nh tiề n m ặt” ngày 29/6/2011 của Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu, do đó đây là chứ ng cứ có giá trị pháp lý cao nhất xác định thời điểm bà K đã nhậ n số tiề n vay 300.000.000đ của Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu. “Bảng kê chi tiền mặ t” ngà y 29/6/2011 của Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu chỉ là một trong những chứng từ bổ trợ kèm theo hồ sơ tí n d ụng, chứ không phả i là chứ ng từ duy nhấ t xá c đị nh bà K có nhậ n tiề n vay 300.000.000đ củ a Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu hay không.
- Mặ c dù trong cùng ngày 29/6/2011 trong tà i khoả n củ a Doanh nghiệ p Y phát sinh “có” số tiề n 300.000.000đ trù ng hợ p vớ i số tiề n
bà K vay đượ c 300.000.000đ theo Hợp đồng tín dụng số 4172878 ngày 29/6/2011, nhưng căn cứ vào “Giấ y lĩ nh tiề n mặ t” ngày 29/6/2011 của Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu (BL 115) thì bà K là người trự c tiế p ký nhậ n tiề n mặ t đố i vớ i số tiề n vay đượ c là 300.000.000đ, còn căn cứ vào “Giấy nộp tiền mặt” ngày 29/6/2011 của Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu (BL 116) thì ông Y là người trực tiếp nộp số tiền mặt 300.000.000đ và o tà i kho ản của Doanh nghiệ p Y , chứ không phả i tà i khoả n củ a Doanh nghiệ p Y báo “có” 300.000.000đ là do đượ c chuyể n khoả n đế n từ tà i khoả n khác trong cùng hệ thống Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu. Vì vậy không có căn cứ để xác định 300.000.000đ có trong tài khoản của Doanh nghiệ p Y chính là số tiề n 300.000.000đ bà K đượ c vay theo Hợp đồng tín dụng số 4172878 ngày 29/6/2011. Do đó lờ i trì nh bà y củ a bà K cho rằ ng Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu đã lừa bà K ký trước chứng từ nhận tiền vay 300.000.000đ và o ngà y 29/6/2011, nhưng sau đó không giao 300.000.000đ cho bà K, mà cấn trừ số tiề n nà y trả nợ vào tài khoản của Doanh nghiệ p Y là không có cơ sở.
- Bà K cho rằ ng Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu không giao 300.000.000đ tiề n vay cho bà K mà tự cấ n trừ khoản tiề n nà y của bà K để trả nợ vào tài khoản của Doanh nghiệ p Y, nhưng tạ i thờ i điể m vay bà K không có bấ t cứ khiế u nạ i thắ c mắ c gì về việ c k hông nhậ n đượ c 300.000.000đ tiề n vay là không phù hợp với thực tế khá ch quan.
- Bên cạ nh đó thì tại “Biên bản kiểm kê sử dụng vốn vay” ngày 08/7/2011 của Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu (BL 172) đối với bà K ông D (có chữ ký của bà K) đã kết luận: Bà K ông D “sử dụng vốn vay đúng mục đích”, từ đó có cơ sở để xác đị nh bà K đã nhậ n tiề n vay 300.000.000đ theo Hợp đồng tín dụng số 4172878 ngày 29/6/2011 của Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu và đã sử dụng đúng mục đích số tiền vay theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng này.
- Tại điểm b .1, Điề u 4 của Hợp đồng tín dụng số 4172878 ngày 29/6/2011 mà bà K đã ký kế t vớ i Ngân hà ng B Bà Rịa – Vũng Tàu có thỏa thuận: “Lãi vay đượ c bên vay trả đị nh kỳ và o ngà y 22 hàng tháng”. Tuy nhiên quá trình bà K vay vố n, Phòng giao dịch B thà nh phố Vũng Tàu đã có Thông báo số 788 ngày 09/9/2011 (BL 27) và Thông báo số 864 ngày 07/11/2011 (BL 27) thông báo cho bà K biết khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 4172878 ngày 29/6/2011 đã quá hạn trả nợ lãi, đề nghị bà K trả nợ lãi, nhưng bà K cũng không có bấ t cứ phả n hồ i gì về việc bà K không nhậ n đượ c tiề n vay 300.000.000đ nên bà K không có trá ch nhiệ m trả lã i của số tiền này là cũng không phù hợ p vớ i thự c tế khá ch quan.
Từ cá c lý do trên , Hộ i đồ ng xé t x ử phúc thẩm không có cơ sở thỏa mã n kháng cáo của bà K, nên thố ng nhấ t vớ i quan điể m củ a Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t là không chấ p nhậ n khá ng cá o củ a bà K, giữ nguyên bả n á n sơ thẩ m.
4. Bà K phải chịu án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định.
5. Do bả n á n sơ thẩ m tuyên phầ n lã i suấ t chậ m trả không chí nh xá c nên Hộ i đồ ng xé t xử phú c thẩ m thố ng nhấ t chỉnh lại kỹ thuậ t tuyên bả n á n về phầ n nà y.
Vì các lẽ trên:
QUYẾ T ĐỊ NH
Áp dụng khoản 1, Điề u 308 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự , tuyên xử :
Không chấ p nhậ n khá ng cá o củ a bà Nguyễn Thị Kim K , giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2017/KDTM-ST ngày 27/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện L như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng số 4172878 ngày 29/6/2011 với bà Nguyễn Thị Kim K.
2. Bà Nguyễn Thị Kim K có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP B tổ ng nợ gố c và nợ lã i theo H ợp đồng tín dụng số 4172878 ngày 29/6/2011 tính đến ngày 27/11/2017 là 688.829.167 (sáu trăm tám mươi tám triệu , tám trăm hai mươi chín ngàn, mộ t trăm sá u mươi bẩ y đồ ng ), trong đó gồ m 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) nợ gố c và 388.829.167đ (ba trăm tá m mươi tá m triệ u , tám trăm hai mươi chín ngàn, mộ t trăm sá u mươi bẩ y đồ ng) nợ lãi.
Bà Nguyễn Thị Kim K phải tiếp tục chịu lãi suấ t trên số nợ gố c cho Ngân hàng TMCP B kể từ ngày 28/11/2017 theo lã i suấ t đượ c thỏ a thuậ n của Hợp đồng tín dụng số 4172878 ngày 29/6/2011 cho đến khi tất toán hết nợ gố c.
3. Trường hợp bà Nguyễn Thị Kim K không trả được nợ thì Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 000708/2011/HĐTC ngày 24/6/2011 đối với thửa đất số 287 tờ bản đồ 130 thị trấn X, huyện L, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 930306 ngày 17/3/2008 do UBND huyện L cấp cho bà Nguyễn Thị Kim K.
4. Chi phí đo đấ t , xem xét thẩm định tại chỗ: Bà Nguyễn Thị Kim K có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng TMCP B 2.990.707đ (hai triệu, chín trăm chín mươi ngàn, bảy trăm lẻ bảy đồng).
5. Chi phí giám định: 3.000.000đ (ba triệu đồng) bà K đã nộp đủ.
6. Án phí:
- Án phí Kinh doanh thương mạ i sơ thẩ m:
+ Bà Nguyễn Thị Kim K phải nộp 31.553.166đ (ba mươi mốt triệu, năm trăm năm mươi ba ngàn, một trăm sáu mươi sáu đồng) tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
+ Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP B 13.750.000đ (mười ba triệu, bảy trăm năm mươi ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001394 ngày 14/6/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L.
- Án phí Kinh doanh thương mạ i phú c thẩ m : Bà Nguyễn Thị Kim K phải nộp 2.000.000đ (hai triệ u đồ ng), đượ c khấ u trừ vào 2.000.000đ (hai triệ u đồ ng) bà Nguyễ n Thị Kim K đã nộ p theo Biên lai thu tiền số 0009578 ngày 19/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L. Như vậ y bà Nguyễn Thị Kim K đã nộ p xong án phí Kinh doanh thương mạ i phú c thẩ m.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
(ngày 26/9/2018).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh BR-VT; -TAND huyệ n L; -Chi cục THADS huyệ n L; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễ n Thị Quang |