- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn N - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lườ ng Văn N phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy”. 2.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật hình sự năm; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2018/HSST Ngày 17-8-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trương Anh Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: bà Lò Thị Hạnh và bà Lò Thị Dậu
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trọng Thể – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Khánh Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2018, tại Trụ sở TAND huyện T tiến hành mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2018/HSST ngày 13/7/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2018/QĐXXST-HS ngày 06/8/2018 đối với bị cáo: Họ và tên: Lƣờng Văn N - tên gọi khác: không; sinh năm: 1971 tại huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: xã N, huyê ̣n M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ văn hóa: 03/12; Con ông: Lườ ng Văn K (đa ̃ chết) và bà: Khoàng Thị T - sinh năm 1946; Vợ, con: không; Tiền sự: Không. Tiền án: Không; Nhân thân: năm 2002 bị Tòa án nhân dân tinh Lai Châu xử
̉ pha ̣t 15 năm tù về tô ̣i mua bán trái phép chất ma túy , chấp hành xong hình phạt ngày 31/8/2011, đa đượ̃
c xóa án tich . Bị cáo bị b ắt tạm giữ từ ngày 01/02/2018, tạm
́ giam từ ngày 07/02/2018 đến nay. Bị cáo tạm giam có mặt tại phiên tòa. Ngƣời Bào chƣ̃a cho bi ̣ cá o : ông Đỗ Xuân Toán - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nướ c tinh Điện Biên. Có mặt̉ Những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- anh Mào Văn Q - sinh năm 1990; Trú tại: Bản N 1, xã N, huyê ̣n M, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.
- anh Tòng Văn T - sinh năm 1990; Trú tại: Bản N 2, xã N, huyê ̣n M, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.
- anh Sìn Văn K - sinh năm 1991; Trú tại: Bản TP, xã M1, huyê ̣n TG, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.
- anh Lườ ng Văn Y - sinh năm 1991; Trú tại: Bản TP, xã M1, huyê ̣n TG, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.
- bà Quàng Thị Đ - sinh năm 1954; Trú tại: thôn N, xã MB, huyê ̣n T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.
- chị Bạc Thị P - sinh năm 1996; Trú tại: thôn N, xã MB, huyê ̣n T , tỉnh Điện Biên. Vắng mặt. Ngƣời làm chứng:
- ông Điêu Chinh Ng - sinh năm 1964; Trú tại: Bản Mường 3, xã M1, huyê ̣n TG,
́ tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.
- chị Lò Thị D - sinh năm 1980; Trú tại: thôn N, xã MB, huyê ̣n T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt. Ngƣời phiên di ̣ch : bà Lò Thị Tình- SN 1980; trú tại: Đội 3, xã MB, huyê ̣n T, tỉnh Điện Biên. Có mặt
NỘI DUNG VỤ Á N
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 31/01/2018, Bị cáo Lườ ng Văn N đi từ khu vực trườ ng tiểu ho ̣c xa N, huyê ̣̃
n M đến khu vực ngã ba rẽ xuống cầu treo N thuô ̣c Bản C, xã
N, huyê ̣n M và mua được 01 gói Heroine của một người đàn ông không quen biết vớ i giá 200.000đ, sau đó bị cáo đi bô ̣ đến nhà bà Quàng Thị Đ ở thôn N, xã MB, huyê ̣n T. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, bị cáo ngồi trên giườ ng lấy ma túy và 01 con dao lam để trên một miếng g ỗ mục đích để cắt ma túy bán cho ai đến hỏi mua, lúc đó có Mào Văn Q đi vào nhà bà Đói và hỏi mua 20.000đ, bị cáo nhận tiền của Q cất dướ i chân rồi dùng dao lam cắt mô ̣t it Heroine từ cu ̣c Heroine để
́
trên miếng gỗ và gói lại bằng giấy nilon đưa cho Q. Q mang ra phia sau nhà bà Đ
́ sử du ̣ng hết. Khoảng 20 giờ cùng ngày, trong nhà bà Đ có Lò Thị D , Bạc Thị P là hai cháu đến thăm bà Đ bị ốm, ngoài ra còn có Điêu Chinh Ng và một số người khác;
́
khi đó Sìn Văn K cùng Lườ ng Văn Y vào nhà bà Đói , K đa hõ ̉i bị cáo mua 100.000đ ma túy và bị cáo đa đỗ ̀ng ý , bị cáo nhâ ̣n 100.000đ của K và dùng dao lam cắt mô ̣t it Heroine đưa cho K, K chia mô ̣t phần cho Y và cả hai sử dụng hết
́ số Heroine trong nhà bà Đói; Mô ̣t lúc sau K ra chỗ bị cáo hỏi mua thêm 90.000đ bị cáo đồng ý , K đưa cho bị cáo 01 tờ tiền mê ̣nh giá 100.000đ, bị cáo trả la ̣i K 10.000đ và lấy dao lam cắt mô ̣t it Heroine gói lại đưa cho K, K cầm gói ma túy đi
́ ra chỗ bếp lử a chia cho Y mô ̣t it rồi cả hai sử du ̣ng , Y sử du ̣ng hết số Heroine,
́ còn K sử du ̣ng mô ̣t it, số Heroine còn lại K gói lại và cất vào túi quần. Sau đó có
́ Tòng Văn T đến nhà bà Đ , T hỏi bị cáo để mua Heroine và đưa cho bị cáo 40.000đ, bị cáo nhận tiền và cắt mô ̣t it Heroine bán cho T . T cầm gói Heroine
́
chưa ki ̣p sử du ̣ng thi thấy Tổ công tác Công an huyê ̣n T vào nhà, T đa dũ ̀ng tay
̀ giâ ̣t ma ̣nh mảnh nilon chứ a Heroine vừ a mua được khiến số Heroine bay đi hết ; bị cáo N thấy công an vào đa nhã
̉y xuống giườ ng để cha ̣y nhưng đa bi ̣̃ khống chế bắt giữ . Khi đó ngo ại trừ bà Đ đang nằm ngủ , những ngườ i khác trong nhà đều chạy tán loạn, Tổ công tác đa lâ ̣̃ p biên bản bắt ngườ i pha ̣m tô ̣i quả tang đối vớ i bi ̣ cáo Lườ ng Văn N. Vâ ̣t chứ ng thu giữ trong quá trinh điều tra gồm: Thu giữ của Bị cáo N 01 gói
̀ nilon chứ a cu ̣c chất bô ̣t màu trắng , 01 miếng gỗ , 01 dao lam; Thu giữ của Sìn Văn K 01 gói nilon màu hồng chứa chất bô ̣t màu trắng , số tiền 10.000đ và 01 mẩu giấy polyme; Thu giữ của Tòng Văn T 10.000đ, 01 xe mô tô biển kiểm soát 27V1-000.04; Thu giữ của Mào Văn Q 01 bơm kim tiêm; Thu giữ của Lườ ng Văn Y 193.000đ, 03 miếng giấy ba ̣c và 01 bâ ̣t lử a ga ; Thu giữ của Bạc Thị P 67.000đ. Ngoài ra thu giữ 01 gói nilon màu hồng bên trong có hai gói nhỏ chứ a chất dẻo màu nâu đen thu giữ trên nền nhà gần chỗ bắt giữ Bị cáo; Quá trình khám nhà thu giữ 100.000đ trên giườ ng bà Đ nằm, 106.000đ trong vi của bà
́ Quàng Thị Đ, 02 bâ ̣t lử a ga, 01 ví giả da, 03 miếng giấy ba ̣c, 01 dao lam, 02 cân tiểu ly tự ta ̣o và 02 xe mô tô.
Đối với 02 gói nhỏ chứa chất dẻo màu nâu đen thu giữ trên nền nhà quá trình điều tra không làm rõ được là của ngườ i nào.
Bản kết luận giám định số 303/GĐ-PC54 ngày 07/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột mà u trắng được trích từ vật chứng thu giữ của Lườ ng Văn N gử i giám đi ̣nh là chất ma túy : loại Heroine- có khối lượng 0,1955 gam, Mẫu chấ t bô ̣t màu trắng được trich từ vâ ̣t
́ chứ ng thu giữ của Sìn Văn K gử i giám đi ̣nh là chất ma túy : loại Heroine có khối lượng 0,0218 gam; Mẫu chất dẻo màu nâu đen gử i giám đi ̣nh là chất ma túy : loại thuốc phiê ̣n- có khối lượng 5,1772 gam. Heroine và thuốc phiện nằm trong danh mục các chất ma túy theo Nghị định số 82/2003/NĐ-CP của Chính Phủ.
Quá trình điều tra , cơ quan cảnh sát điều tra đa xữ ̉ lý vâ ̣t chứ ng bằng hinh
̀ thứ c trả la ̣i cho chủ sở hữu hợp pháp các tài sản gồm : trả 01 xe mô tô nhãn hiê ̣u HONDA WAVERS biển kiểm soát 27V1-000.04 cho ông Tòng Văn V , trả 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA SUPER DREAM biển kiểm soát 27B1-151.28 cho ông Nguyễn Văn C, trả 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 27Z1-1617 cho chị Điêu Thi ̣ Ng.
Bản cáo trạng số: 09/CT-VKSHTC ngày 12 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Lườ ng Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b , điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sử a đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sử a đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số heroine và thuốc phiê ̣n còn lại sau giám định, truy thu số tiền bị cáo pha ̣m tô ̣i mà có , chấp nhâ ̣n quyết đi ̣nh xử lý vâ ̣t chứ ng của cơ quan điều tra về viê ̣c trả la ̣i 03 chiếc xe mô tô, đề nghị trả lại số tiền thu giữ của nhữ ng ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃
liên quan , đối vớ i vâ ̣t chứ ng còn lại đề nghị tịch thu tiêu hủy do không có giá trị và giá trị sử dụng.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố và lời khai của bi ̣ cáo tại cơ quan Điều tra. Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Ngườ i bào chữa cho bi ̣ cáo ta ̣i phiên tòa nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị HĐXX xem xét về hoàn cảnh và trình độ văn hóa, trình độ hiểu biết pháp luật của bị cáo hạn chế, quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, mẹ đẻ bị cáo được nhà nước tă ̣ng thưở ng Huy chương kháng chiến ha ̣ng nhất , đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự, áp dụng cho bị cáo mức thấp của khung hinh pha ̣t , không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình
̀ sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, VKSND huyện trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và ngườ i làm chứng; Kiểm sát viên và những ngườ i tham gia tố tu ̣ng đề nghi ̣ xét xử vắng mă ̣t họ, xét những ngườ i vắng mă ̣t đa cõ ́ lờ i khai trong quá trinh điều tra và sự
̀ vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, 293 của BLTTHS năm 2015. [3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến việc bắt quả tang bị cáo và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ niêm phong vật chứng; biên bản mở niêm phong, xác định trọng lượng và bản kết luận giám định. Có đủ cơ sở kết luận vào hồi 11 giờ 00, ngày 31/01/2018 bị cáo mua được 01 gói heroin với giá 200.000 đồng của một người đàn ông không quen biết tại Bản C, xã N, huyê ̣n M. Sau khi mua được bị cáo đi đến nhà bà Quàng Thị Đ tại thôn N, xã MB, huyê ̣n T, tại đây bị cáo đã thực hiện bán ma túy nhiều lần , cho nhiều ngườ i, cụ thể: Bán cho 03 ngườ i gồm Mào Văn Q, Sìn Văn K, Tòng Văn T, trong đó bi ̣ cáo bán cho Sìn Văn K 02 lần, mục đich bán ma túy của bi ̣ cáo là để
́
lấy lợi nhuâ ̣n, bị cáo đã nhận tiền của Mào Văn Q 20.000đ, nhâ ̣n của Sìn Văn K 02 lần là 190.000đ (mô ̣t lần 100.000đ, mô ̣t lần 90.000đ), nhâ ̣n của Tòng Văn T 40.000đ và đa đưa ma tũ
́y từ ng lần cho từ ng ngườ i mua.
Bị cáo Lườ ng Văn N là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã cố ý mua 01 gói heroin với mục đích để bán tìm kiếm lợi nhuận và bị cáo đã bán được cho 03 ngườ i, trong đó có 01 ngườ i bi ̣ cáo bán 02 lần, nhâ ̣n số tiền tổng cô ̣ng là 250.000đ, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” vớ i cấu thành đi ̣nh khung tăng nă ̣ng “ phạm tội 02 lần trở lên” và “đối vớ i 02 ngườ i trở lên” tô ̣i pha ̣m được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện TC truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [4] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, mẹ đẻ của bị cáo Khoàng Thị T là người có công với cách mạng đã được nhà nướ c tă ̣ng thưở ng Huy chương kháng chiến ha ̣ng nhất (giấy chứ ng nhâ ̣n số 32 ngày 25/9/2000 của Viện thi đua khen thưởng Nhà nước ) nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS cho Bị cáo.
Bị cáo không có tiền sự, năm 2002 Bị cáo bị TAND tỉnh Lai Châu xử pha ̣t 15 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy , tuy đa đượ̃
c xóa án tích nhưng cần xem xét về nhân thân khi áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo, Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 52 của BLHS. [5]Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người sử dụng chất ma túy, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [6] Tịch thu sung quy nhã
̀ nướ c: Bị cáo đã bán ma túy cho 03 ngườ i nhâ ̣n tổng số tiền 250.000đ là tiền do pha ̣m tô ̣i mà có nên cần truy thu sung quy nhã
̀ nướ c theo điểm b khoản 1 điều 47 của BLHS năm 2015. [7] Về các vấn đề khác:
Tại nền nhà bà Quàng Thị Đ thu giữ được 01 gói nilon màu hồng bên trong có hai gói nhỏ chứ a thuốc phiê ̣n- có khối lượng 5,1772 gam, quá trình điều tra và tại phiên tòa không làm rõ được là của ai nên HĐXX không có cơ sở để xem xét , xử lý.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo quá trình Điều tra và tại phiên tòa không xác định được tên, địa chỉ, nên HĐXX không có cơ sở để xem xét, xử lý. Đối với Sìn Văn K xét số lượng hê rô in thu giữ là 0,0218 gam qua điều tra xác minh Kiên chưa bi ̣ xử pha ̣t hành chinh về hành vi tàng trữ , chưa bi ̣
́
kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy , bà Quàng Thị Đ không biết viê ̣c các đối tượng mua bán và sử du ̣ng ma túy trong nhà , nên cơ quan điều tra không đề câ ̣p xử lý hinh sự là phù hợp.
̀ [8] Về vật chứng vụ án:
- Đối vớ i các vâ ̣t chứ ng gồm 03 chiếc xe mô tô không liên quan đến hành vi phạm tội, cơ quan điều tra đa xữ ̉ lý bằng hinh thứ c trả la ̣i chủ sở hữu hợp pháp
̀
gồm ông Tòng Văn V, ông Nguyễn Văn C và chị Điêu Thi ̣ Ng là phù hợp vớ i quy đi ̣nh, HĐXX chấp nhâ ̣n.
- Đối với số tiền thu giữ , xét thấy không l iên quan đến hành vi pha ̣m tô ̣i của bị cáo, cần trả la ̣i: Sìn Văn K số tiền 10.000đ, Tòng Văn T 10.000đ, Lườ ng Văn Y 193.000đ, Bạc Thị P 67.000đ, bà Quàng Thị Đ 206.000đ.
- Đối với số Heroine và thuốc phiện thu giữ còn lại là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy
- Các vật chứng còn lại gồm : 01 miếng gỗ, 02 dao lam, 01 mẩu giấy polyme , 01 bơm kim tiêm, 03 miếng giấy ba ̣c, 03 bâ ̣t lử a ga, 01 ví giả da, 06 miếng giấy ba ̣c, 02 cân tiểu ly tự ta ̣o là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy. [9] Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nên cần miễn toàn bộ án phí cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lườ ng Văn N phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy”. 2. Hình phạt: Áp dụng điểm b, điểm c khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lườ ng Văn N 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2018. 3. Tịch thu tiền liên quan đến tội phạm: Áp dụng điểm b khoản 1 điều 47 của BLHS: Truy thu số tiền 250.000đ do bị cáo phạm tội mà có. 4. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả lại cho Sìn Văn K số tiền 10.000đ, Tòng Văn T 10.000đ, Lườ ng Văn Y 193.000đ, Bạc Thị P 67.000đ, bà Quàng Thị Đ 206.000đ.
- Chấp nhâ ̣n quyết đi ̣nh xử lý vâ ̣t chứ ng của cơ quan điều tra Công an huyê ̣n về viê ̣c trả 01 xe mô tô nhan hiê ̣̃
u HONDA WAVERS biển kiểm soát 27V1-000.04 cho ông Tòng Văn V , trả 01 xe mô tô nhan hiê ̣̃
u HONDA SUPER DREAM biển kiểm soát 27B1-151.28 cho ông Nguyễn Văn C, trả 01 xe mô tô nhan hiê ̣̃
u YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 27Z1-1617 cho chi ̣ Điêu Thi ̣ Ng.
- Tịch thu và tiêu hủy: + Số heroin còn lại gồm 0,1311 gam thu giữ của Lườ ng Văn N và 0,0124 gam thu giữ của Sìn Văn K; Số thuốc thuốc phiê ̣n còn la ̣i: 4,8027 gam + 01 miếng gỗ, 02 dao lam, 01 mẩu giấy polyme, 01 bơm kim tiêm, 03 bâ ̣t lử a ga, 01 ví giả da, 06 miếng giấy ba ̣c, 02 cân tiểu ly tự ta ̣o Số vật chứng trên cơ quan Thi hành án dân sự huyê ̣n T đang quản lý theo biên bản giao nhâ ̣n vâ ̣t chứ ng giữa cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện T. 5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. 6. Kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/08/2018), những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện T; - Bô ̣ phâ ̣n hồ sơ NV- CA huyê ̣n T - Cơ quan THAHS huyê ̣n, tỉnh; - TAND tỉnh Điện Biên; - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên; - THADS huyện T; - Bị cáo; NBC - Người có QLNVLQ; - Lưu HSVA, HSTHA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đa kỹ ́) Trƣơng Anh Tuấn |