vanban.org

Bản án 11/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 16/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Minh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Võ Minh L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/6/2018. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Minh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC PHỔ
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2018/HSST
Ngày 16-10-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC PHỔ - TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức

Các hội thẩm nhân dân

Bà Huỳnh Thị Mỹ Lễ - Hội chữ thập đỏ huyện

Ông Nguyễn Thanh Tiếp – Cán bộ hưu trí

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quá – kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2018 Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2018/ HSST ngày 06/9/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Võ Minh L – sinh ngày 24 tháng 11 năm 1983 tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Minh Đ và bà Nguyễn Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 tháng 6 năm 2018 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đức Phổ, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Trung Q – sinh 1990

Trú tại: Thôn B, xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

- Anh Nguyễn Minh H – sinh năm 1996

Trú tại: Thôn L, xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi

- Anh Bùi Thái Q – sinh năm 1984

Trú tại: Thôn T, xã C, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Vào lúc 9 giờ 30 phút, ngày 29/6/2018 Công an huyện Đức Phổ phối hợp với Công an xã C, Đồn Biên phòng Sa Huỳnh kiểm tra hành chính nhà nghỉ H ở T, C, Đ, Quảng Ngãi phát hiện tại phòng số 201 có Võ Minh L, sinh năm 1983 ở thôn L, P, Đ, Nguyễn Trung Q, sinh năm 1990 ở thôn B, P, Đ và Nguyễn Minh H, sinh năm 1996 ở thôn L, P, Đ đang sử dụng trái phép chất ma túy, kiểm tra người của Võ Minh L phát hiện trong túi quần Võ Minh L đang mặt có 13 gói nilon, bên trong có chứa hạt tinh thể màu trắng, L khai nhận hạt tinh thể màu trắng bên trong 13 gói nilon trên là ma túy dạng “đá” L mua của một người L không biết tên, địa chỉ cụ thể tại thị trấn T, H, Bình Định mang về để sử dụng, kiểm tra người của Nguyễn Minh H và Nguyễn Trung Q không phát hiện có ma túy. Công an huyện Đức Phổ tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Võ Minh L về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Võ Minh L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Võ Minh L đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Theo Kết luận giám định số: 618/KLGĐ-PC54 ngày 01/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi:

- Chất rắn, dạng hạt tinh thể màu trắng bên trong 13 (mười ba) gói nilon màu trắng gửi giám định có khối lượng là 1,23 gam; có Methamphetamine; hàm lượng Methamphetamine là 40,8%. Do đó, khối lượng Methamphetamine tinh chất có trong 1,23 gam mẫu giám định là 0,50 gam.

- Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Cáo trạng số: 13/ CT - VKS ngày 04/ 9/ 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ đã truy tố Võ Minh L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo từ 02 đến 03 năm tù.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nhiệp nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong số 618/PC54 (GĐ-2018), mặt sau có chữ “mẫu vật hoàn trả sau giám định”, dấu tròn đóng giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi; 01 (một) bậc lửa ga, màu xanh lá cây; 01 (một) nắp chai nhựa màu xanh, có gắn một ống hút màu trắng và 01 (một) ống thủy tinh;

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt trước có chữ “BUK” đã được niêm phong, bì niêm phong bằng giấy màu trắng có chữ ký giáp lai của ông Mai Thanh Dũng, Vũ Viết Thịnh và bị can Võ Minh L là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội

Tiếp tục tạm giữ tiền Việt Nam đồng 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) của bị can Võ Minh L để đảm bảo thi hành án

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Đức Phổ, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi tàng trữ trái phép chất Methamphetamine (theo Nghị định số 82/2013/NĐ- CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất thì chất Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, III) của bị cáo là nhằm vào mục đích sử dụng. Theo kết luận giám định số: 618/KLGĐ-PC54 ngày 01/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi xác định trong 1,23 gam chất rắn, dạng hạt tinh thể màu trắng có khối lượng chất Methamphetamine là 0,50gam. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nên cáo trạng số 13/CT-VKS – ĐP ngày 04/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết về pháp luật. Bị cáo thừa hiểu ma túy là một tệ nạn xã hội, gây hậu quả hệ lụy rất lớn cho nhân loại và toàn xã hội nhưng để thỏa mãn cơn nghiện mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cộng đồng nên cần áp dụng mức hành phạt thật nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng chống tội phạm

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử , bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, Hội đồng cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Đối với đối tượng bán ma túy cho L và người tên K, Cơ quan cảnh sát điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể, chưa làm việc được nên chưa có cơ sở để xử lý nên Hội đồng xét xử chưa xem xét.

- Đối với Nguyễn Minh H và Nguyễn Trung Q có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý hành chính là phù hợp.

[6] Việc xử lý vật chứng:

[6.1] Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ: 01 (một) bì niêm phong số 618/PC54 (GĐ-2018), mặt sau có chữ “mẫu vật hoàn trả sau giám định”, dấu tròn đóng giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi; 01 (một) bậc lửa ga, màu xanh lá cây; 01 (một) nắp chai nhựa màu xanh, có gắn một ống hút màu trắng và 01 (một) ống thủy tinh. Xét các vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[6.2] Đối với 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt trước có chữ “BUK” đã được niêm phong, bì niêm phong bằng giấy màu trắng có chữ ký giáp lai của ông Mai Thanh Dũng, Vũ Viết Thịnh và bị can Võ Minh L là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[6.3] Số tiền 200.000đồng thu giữ trên người của bị cáo khi bắt phạm tội quả tang nên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Về án phí: Bị cáo Võ Minh L phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm p khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Võ Minh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Võ Minh L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/6/2018.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong số 618/PC54 (GĐ-2018), mặt sau có chữ “mẫu vật hoàn trả sau giám định”, dấu tròn đóng giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi; 01 (một) bậc lửa ga, màu xanh lá cây; 01 (một) nắp chai nhựa màu xanh, có gắn một ống hút màu trắng và 01 (một) ống thủy tinh.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt trước có chữ “BUK” đã được niêm phong, bì niêm phong bằng giấy màu trắng có chữ ký giáp lai của ông Mai Thanh Dũng, Vũ Viết Thịnh và bị can Võ Minh L.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000đồng của bị cáo Nguyễn Minh L để đảm bảo thi hành án

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/9/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Phổ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luât Tố tụng hinh sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Võ Minh L phải nộp 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ