vanban.org

Bản án 11/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 28/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Võ Văn M 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại Võ Văn T không yêu cầu bị cáo Võ Văn M bồi thường thiệt hại, nên không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn M phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÙ LAO DUNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2018/HS-ST.
Ngày: 28-5-2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liên Lâm Anh Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Văn Quân.

Nghề nghiệp: Công chức.

Nơi công tác: Hội chữ thập đỏ huyện Cù Lao Dung.

2. Ông Dương Hồng Hải.

Nghề nghiệp: Công chức.

Nơi công tác: Liên đoàn lao động huyện Cù Lao Dung.

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tuấn Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Kiều Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Võ Văn M, sinh năm: 1986 tại xã A, huyện C, tỉnh S; nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh S; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H (còn sống) và bà Lý Thị S (còn sống); có vợ là Võ Thị O; có con 02 người, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2011; anh chị em ruột: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền án: không có; tiền sự: không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/12/2017 cho đến nay “có mặt”.

Bị hại: Ông Võ Văn T, sinh năm: 1982; Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh S.

Người làm chứng:

1. Ông Ngô Văn P, sinh năm: 1978. Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh S “có mặt”.

2. Ông Phan Văn C, sinh năm: 1970. Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh S “có mặt”.

3. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1962. Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh S “có mặt”.

4. Ông Võ Minh T, sinh năm: 1993. Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh S “có mặt”.

5. Bà Võ Thị O, sinh năm: 1981. Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh S “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giữa bị cáoVõ Văn M và bị hại Võ Văn T là bạn bè với nhau. Vào khoảng 12 giờ ngày 21/8/2017, ông Phan Văn C ở ấp An Nghiệp, xã An Thạnh 3 có tổ chức uống rượu tại nhà cùng với T, M và Ngô Văn P, trong lúc uống rượu có nói chuyện qua lại với nhau, T hỏi M “Đi làm một ngày được bao nhiêu tiền” M trả lời “Đi làm thuê một ngày được 180.000 đồng”, T mới nói “Vậy mầy khỏi làm đâu, mầy cho tao đấm 180 cái tao cho mầy 180.000 đồng”, M nói “Anh em không mà mầy nói vậy tao không chịu đâu”. Một lúc sau thì ông C đi công chuyện còn lại M, T, P vẫn tiếp tục uống rượu và nói chuyện bình thường. Lúc này, M có điện thoại, sau khi nghe điện thoại xong M mới nói với T và P “Thôi tao đi về đánh bầu cua kiếm ít vốn”, rồi M uống với T một ly rượu nữa, uống xong M đi về nhà của M. Khi về đến nhà thì em vợ của M tên Q đã mua rượu sẵn đợi M ở nhà, M và Q uống khoảng 01 xị rượu thì Q nói nghỉ uống, Q đi về, còn M lên giường nằm nghỉ khoảng 10 phút thì nhớ lại chuyện lúc uống rượu ở nhà ông C, T có lời nói khi dễ mình, nên M đi tìm T nói chuyện, khi đi thì M mang theo 01 cây dao (loại dao thái lan) dài khoảng 20cm, cán bằng nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng hơi bầu, M bỏ cây dao vào trong túi quần sọt Jean bên phải và đi bộ đến nhà T, khi đến nhà T thì M gặp bà Nguyễn Thị H (mẹ ruột của T), M nói lại sự việc cho bà H nghe thì bà H nói “Thôi về đi để mợ ba la nó”, sau đó M mới vén áo lên cho bà H thấy cây dao M bỏ trong túi quần và nói “Nó nói vậy con không chịu đâu, nó nói vậy là con đâm nó à”, rồi M đi về. Khi đi được khoảng 30 mét thì M quay mặt lại nhìn thấy T từ quán cặp mé sông đi lên nhà T, nên M mới quay lại, khi gặp T đứng ở nhà sau M nói “Anh em không mà mày nói vậy tao không chịu đâu, tao không thích” T trả lời “Tao nói vậy rồi sao” M mới nói “Mầy muốn gì thì tao cũng chìu mầy hết”. Nói xong M rút cây dao từ trong túi quần ra, M cầm dao tay trái nhào tới đâm T nhưng không trúng, T dùng chân đạp M một cái trúng vào người và dùng tay xô M ra, rồi T bỏ chạy ra nhà trước. M đuổi theo T chạy ra tới lộ đal trước nhà T, T nhặt khúc cây trước nhà cầm trên tay, M tiếp tục nhào vô đâm T thì T dùng khúc cây nhặt được đánh vào người M, M dùng tay đỡ, khúc cây bị gãy, lúc này bà H từ trong nhà chạy ra mở cửa rào cho T chạy vào, M cầm dao rượt theo đâm T, T dùng tay đỡ và câu cổ M, M cũng câu cổ T và dùng dao đâm trúng vào lưng của T nhiều cái thì cây dao bị gãy rơi xuống đất. Sau đó ông Võ Văn C (cha ruột của T) và Võ Minh T (em của T) từ trong nhà chạy ra can ngăn và điện thoại báo Công an xã An Thạnh 3 nội dung sự việc, còn T được gia đình đi điều trị thương tích tại Bệnh viện Đa khoa huyện Cù Lao Dung từ ngày 21/8/2017 đến ngày 25/8/2017 thì được xuất viện.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 174/TgT-PY, ngày 22/9/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Sóc Trăng kết luận: Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Võ Văn T là 04% (bốn phần trăm). Tổn thương do vật sắc nhọn gây nên, tổn thương vùng lưng là vùng nguy hiểm đến tính mạng.

Trên cơ sở điều tra và những tài liệu chứng cứ thu thập được, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cù Lao Dung khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Võ Văn M về tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Võ Văn M để chờ xét xử.

Tại bản cáo trạng số: 05/QĐ.KSĐT, ngày 07 tháng 3 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung để xét xử Võ Văn M về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, điểm i khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố Nhà nước rút lại việc truy tố bị cáo phạm tội theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 104 (phạm tội có tính chất côn đồ), chỉ truy tố bị cáo Võ Văn M phạm tội cố ý gây thương tích theo điểm a khoản 1 Điều 104 (dùng hung khí nguy hiểm), nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cáo trạng số: 05/QĐ.KSĐT, ngày 07 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung truy tố bị cáo Võ Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ sau: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) tuyên bố bị cáo Võ Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích”, đồng thời áp dụng điểm h, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) tuyên phạt bị cáo Võ Văn M từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù; về trách nhiệm dân sự: do bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, nên không đặt ra xem xét.

- Ý kiến của bị hại Võ Văn T tại phiên tòa: Yêu cầu xét xử bị cáo Võ Văn M theo quy định của pháp luật; về trách nhiệm dân sự: không yêu cầu bị cáo Võ Văn M bồi thường thiệt hại.

- Ý kiến của bị cáo Võ Văn M: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cù Lao Dung, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo Võ Văn M thừa nhận: Trong lúc đang nhậu trong nhà của ông Phan Văn C thì Võ Văn T có nói chuyện xem thường M, nhưng lúc đó chưa xảy ra cãi vã hay xô xát gì với nhau. Khi M về nhà thì nhớ lại chuyện T nói chuyện xem thường mình, nên M lấy cây dao (loại dao thái lan) dài khoảng 20cm, cán bằng nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng hơi bầu đi kiếm T để nói chuyện thì xảy ra xô xát với T, nên M đã dùng dao đâm trúng vào lưng của T nhiều cái gây thương tích cho T là 04%.

Đối với lời khai nhận tội và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy lời thừa nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường và các chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu giữ trong hồ sơ vụ án.

Mặt khác, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thể hiện là người bình thường đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người đã thành niên, bị cáo nhận thức được việc dùng dao gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do bị hại có thái độ xem thường bị cáo mà bị cáo đã cố ý dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào người bị hại nhiều cái gây thương tích cho bị hại, nên hành vi này của bị cáo cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Tại Cáo trạng số: 05/QĐ.KSĐT, ngày 07 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Võ Văn M phạm tội cố ý gây thương tích theo điểm a, điểm i khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Tuy nhiên, tại phiên tòa Kiểm sát viên đã rút lại việc truy tố bị cáo Võ Văn M phạm tội theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 104 (phạm tội có tính chất côn đồ), mà chỉ truy tố bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích theo điểm a khoản 1 Điều 104 (dùng hung khí nguy hiểm) của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện. Vì vậy, đã có đủ căn cứ xác định Cáo trạng số: 05/QĐ.KSĐT, ngày 07 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như thế mới đủ điều kiện và thời gian cải tạo, răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội sau này và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng, trước khi lượng hình cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo. Vì vậy, căn cứ vào điểm h, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng là đúng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, bị hại Võ Văn T không yêu cầu bị cáo Võ Văn M bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 01 cây dao bị gãy lưỡi dao ra khỏi cán dao, có cán bằng nhựa màu đen dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng có chiều dài 12cm, nơi rộng nhất ở phần lưỡi dao là 3cm, mũi dao nhọn; 01 cái áo thun tay ngắn, màu trắng, phía sau cổ bị rách một đường 2,5cm, hiệu áo là BLUCJEAS, đây là các vật chứng có liên quan đến vụ án không còn giá trị sử dụng, nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Võ Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 104; điểm h, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Xử phạt bị cáo Võ Văn M 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại Võ Văn T không yêu cầu bị cáo Võ Văn M bồi thường thiệt hại, nên không đặt ra xem xét.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu, tiêu hủy 01 cây dao bị gãy lưỡi dao ra khỏi cán dao, có cán bằng nhựa màu đen dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng có chiều dài 12cm, nơi rộng nhất ở phần lưỡi dao là 3cm, mũi dao nhọn; 01 cái áo thun tay ngắn, màu trắng, phía sau cổ bị rách một đường 2,5cm, hiệu áo là BLUCJEAS.

5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Võ Văn M phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, bị hại, được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ