- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bui Văn V - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Căn c điểm a hoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố t ng hình s năm 2015;
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2018/HS-PT Ngày: 02-02-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Th m ph n - Ch t a ph n t a: ng Nguy n Hu nh Đ c.
C c Th m ph n: Ông Trần Văn Luông;
Bà Lưu Thị Mỹ Hương.
Th
ph n t a: Bà Nguy n Thị Hồng Thắm – Thư T a án nh n n tỉnh Bình Dương.
Đạ d ện V ện K ểm s t nhân dân t nh B nh D ng tham g a ph n t a: Bà Nguy n Thị Ngọc Nữ – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30 tháng 01 và ngày 02 tháng 02 năm 2018, tại tr s T a án nh n n tỉnh Bình Dương, t ph c th m công hai v án hình s ph c th m th lý số: 198/2018/TLPT-HS ngày 05 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo Bùi Quang V o có háng cáo của ông Nguy n Văn T là người đại iện ủy quyền của bà Lê Thị T, bà Lê Kim L, ông Lê Thanh S, bà Lê Kim L1 đối với Bản án hình s sơ th m số 153/2017/HS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2017 của T a án nh n dân thị ã B, tỉnh Bình Dương.
- H và t n bị c o không kháng cáo: Bùi Quang V, sinh năm 1985 tại tỉnh T y Ninh. Nơi cư tr : Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Tài ế; trình độ học vấn: 7/12; n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn N, sinh năm 1952 và bà Nguy n Thị C, sinh năm 1946; có vợ là Đỗ Thị Kiều N, sinh năm 1983 và có 02 người con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền s : Không; bị bắt tạm giam ngày 06/3/2017, có mặt.
- Ng ờ đạ d ện hợp ph p c a bị hạ có đ n h ng c o: Bà Lê Thị T (vợ của bị hại , sinh năm 1958; bà Lê Kim L (con ruột của bị hại , sinh năm 1981; ông Lê Thanh S (con ruột của bị hại , sinh năm 1985, cùng nơi cư trú: khu phố 3B, phường T, thị ã B, tỉnh Bình Dương; bà Lê Kim L1 (con ruột của bị hại , sinh năm 1983, nơi cư tr : Ấp 4, xã N, huyện C, tỉnh Bình Phước. Bà T, bà L, ông S và bà L1 ủy quyền cho ông Nguy n Văn T, sinh năm 1955, nơi cư trú: Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước, (theo văn bản ủy quyền ngày 17/01/2018) có mặt.
- Ng ờ bảo vệ quyền và lợ ích hợp ph p c a ng ờ đạ d ện hợp ph p c a bị hạ : Ông Nguyễn T ến D là Trợ g úp v n ph p l c a Trung tâm Trợ g úp ph p l Nhà n ớc t nh B nh D ng, có đ n xin vắng mặt.
- Ng ờ đạ d ện hợp ph p c a bị hạ không có đ n h ng c o: Ông Lê Thanh P (con ruột người bị hại , sinh năm 1979; nơi cư tr : Khu phố 3B, phường T, thị ã B, tỉnh Bình Dương. Ông P ủy quyền cho ông Nguy n Văn T, sinh năm 1955, nơi cư trú: Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước (theo văn bản ủy quyền ngày 17/01/2018), có mặt.
- Bị đ n dân sự: Công ty Trách nhiệm hữu hạn H (Công ty TNHH H); địa chỉ tr s : Đường N, tổ 11, hu phố P, phường P, thị ã B, tỉnh Bình Phước. Người đại iện theo pháp luật: ng Phùng Phú M, ch c v : Giám đốc. Ông M ủy quyền cho bà L Ngọc T, sinh năm 1983, nơi cư tr : Ấp N, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước (theo văn bản ủy quyền ngày 05/9/2017 , có mặt.
Trong v án c n có 01 người có quyền lợi, nghĩa v liên quan do không có háng cáo, háng nghị nên T a án hông triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và i n biến tại phiên t a, nội ung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 5/2016, Bùi Quang V đến lái e thuê cho Công ty TNHH H. Khoảng 23 giờ 00 ph t ngày 05/3/2017, V điều hiển e ôtô đầu o biển số 93C – 063.70 o rơ moóc biển số 93R – 002.59 từ Công ty TNHH H đến nhà máy i măng H1 tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước nhận hàng (lin er để ch đến thị ã T, tỉnh Bình Dương giao cho khách hàng.
Khoảng 03 giờ 30 ph t ngày 06/3/2017, V điều hiển e ôtô đầu o biển số 93C – 063.70 – rơ moóc biển số 93R – 002.59 lưu thông trên Quốc lộ 13 theo hướng từ thị ã B đến ngã tư S. Khi đi đến hu v c ngã tư giao nhau trên Quốc lộ 13 thuộc khu phố 3B, phường T, thị ã B, o hông làm chủ tốc độ, V điều hiển e lấn sang làn đường ành cho e môtô, leo lên lề đường rồi đ m vào nhà ông Lê Văn K, hậu quả làm ông K chết và g y thiệt hại nghiêm trọng về tài sản của gia đình ông K. Sau đó, Bùi Quang V đến Công an đầu th .
Theo Biên bản hám nghiệm hiện trường ngày 06/3/2017, ác định: Nơi ảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường Quốc lộ13, được ph n tuyến ngã tư giao nhau với đường ph , có tín hiệu đèn giao thông thuộc khu phố 3B, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
- Chọn lề phải hướng về ngã tư S làm lề chu n (hướng e ôtô đầu o biển số 93C – 063.70 lưu thông .
- Nạn nh n Lê Văn K nằm trước đầu e ôtô đầu o biển số 93C – 063.70 đã được gia đình đưa ra hỏi hiện trường.
- Xe ôtô đầu o biển số 93C – 063.70 o rơ moóc biển số 93R – 002.59 ừng lại trong nhà của nạn nh n. Đầu e quay o vào lề phải theo hướng e lưu thông. Tr c trước bên trái cách lề phải 6,20m, tr c sau cùng bên trái cách lề phải 1,60m.
- Xe ôtô đầu o biển số 93C – 063.70 để lại 01 vết phanh trên mặt đường ài 48,10m, đầu vết phanh cách tr đèn tín hiệu giao thông là 6,10m, cuối vết phanh cách lề phải là 3,80m.
Theo Kết luận Giám định pháp y t thi số 198/PC54 - GĐPY ngày 14/3/2017 của Ph ng Kỹ thuật hình s Công an tỉnh Bình Dương ết luận: Nguyên nh n chết của ông Lê Văn K là o đa chấn thương, choáng mất máu hông hồi ph c.
Theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng thị ã B ngày 10/7/2017 ết luận: Tổng cộng các tài sản bị hư hỏng là 263.649.970 đồng.
Tại Bản án hình s sơ th m số 153/2017/HS-ST ngày 27/10/2017 của T a án nhân dân thị ã B đã quyết định:
Về hình phạt: p ng điểm đ hoản 2 Điều 202; điểm p hoản 1, hoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình s năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009: X phạt bị cáo Bùi Quang V 42 (bốn mươi hai tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2017.
Về trách nhiệm n s : Buộc Công ty TNHH H phải bồi thường cho bà Lê Thị T, Ông Lê Thanh P, bà Lê Kim L, bà Lê Kim L1 và ông Lê Thanh S số tiền 500.049.970 đồng (năm trăm triệu hông trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm bảy mươi đồng .
Ngoài ra, cấp sơ th m c n tuyên về l vật ch ng, án phí và quyền háng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/11/2017, ông Nguy n Văn T là người đại iện theo ủy quyền cho bà Lê Thị T, bà Lê Kim L, bà Lê Kim L1, ông Lê Thanh S háng cáo yêu cầu tăng m c hình phạt đối với bị cáo và em t bồi thường thiệt hại th c tế ( y
ng lại nhà, mua sắm lại các vật ng bị thiệt hại, bồi thường thiệt hại về tinh thần và bồi thường o mất thu nhập th c tế , đơn háng cáo trong hạn luật định.
Ngày 22/11/2017 ông Nguy n Văn T đại iện theo ủy quyền cho bà Lê Thị T, bà Lê Kim L, bà Lê Kim L1, ông Lê Thanh S háng cáo bổ sung yêu cầu ác minh làm rõ về hành vi g y tai nạn của bị cáo để ác định hung hình phạt và phần bồi thường thiệt hại.
Tạ ph n t a:
Đại iện Viện Kiểm sát tham gia phiên t a ph c th m phát biểu quan điểm giải quyết đối với v án: Xác định tội anh, điều luật T a án cấp sơ th m t và áp ng đối với bị cáo Bùi Quang V là có căn c , đ ng người, đ ng tội. Ngày 06/11/2017, ông Nguy n Văn T đại iện theo ủy quyền cho bà Lê Thị T, bà Lê Kim L, bà Lê Kim L1, ông Lê Thanh S kháng cáo yêu cầu tăng m c hình phạt đối với bị cáo V và em t bồi thường thiệt hại th c tế ( y ng lại nhà, mua sắm lại các vật ng bị thiệt hại, bồi thường thiệt hại về tinh thần và bồi thường o mất thu nhập th c tế). Về hình phạt: T a án cấp sơ th m áp ng điểm đ hoản 2 Điều 202 và các tình tiết giảm nhẹ tại điểm p hoản 1, hoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình s
phạt bị cáo V 03 năm 06 tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật. Về trách nhiệm n s : T a án cấp sơ th m căn c vào Điều 591 của Bộ luật D n s năm 2015 và hướng n tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Th m phán T a án nh n n Tối cao, chấp nhận một phần yêu cầu của người đại iện hợp pháp của người bị hại, buộc Công ty TNHH H phải bồi thường cho bà Lê Thị T, Ông Lê Thanh P, bà Lê Kim L, bà Lê Kim L1 và ông Lê Thanh S số tiền 500.049.970 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên hông có c s chấp nhận háng cáo của người đại iện theo ủy quyền của bà L, bà L1, ông S, Bà T là ông Nguy n Văn T. Đề nghị Hội đồng t
giữ nguyên bản án sơ th m của Tòa án nhân dân thị ã B, tỉnh Bình Dương.
Đại iện ủy quyền của Bà T, bà L, ông S, bà L1 là ông Nguy n Văn T trình bày: Bị cáo hông có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s nên yêu cầu tăng m c hình phạt cao nhất hung hình phạt cho bị cáo và em t bồi thường thiệt hại th c tế bao gồm: Chi phí mai táng 305.900.000 đồng, chi phí ọn ẹp vệ sinh 4.800.000 đồng; thiệt hại tài sản 682.230.000 đồng, thiệt hại thu nhập bị mất là 820.000.000 đồng, bù đắp thiệt hại tổn thất về tinh thần, thiệt hại o không làm việc được là 1.000.000.000 đồng, thiệt hại o thu nhập bị mất của c a hàng điện thoại 143.100.000 đồng và thiệt hại o mất thu nhập inh oanh ăn uống, giải hát 270.000.000 đồng, tổng cộng số tiền 3.226.000.000 đồng.
Bị cáo Bùi Quang V trình bày: Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của ông Nguy n Văn T là người đại iện theo ủy quyền của Bà T, bà L, bà L1, ông S. Đề nghị Hội đồng t giữ nguyên bản án sơ th m.
Đại iện ủy quyền của Công ty TNHH H trình bày: Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của ông Nguy n Văn T là người đại iện theo ủy quyền của Bà T, bà L, bà L1, ông S. Đề nghị Hội đồng t giữ nguyên bản án sơ th m.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội ung v án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên t a, Hội đồng t nhận định như sau:
Khoảng 03 giờ 30 ph t ngày 06/3/2017, Bùi Quang V điều hiển e ôtô đầu o biển số 93C – 063.70 o rơ moóc biển số 93R – 002.59 lưu thông trên đường Quốc lộ 13 theo hướng từ B đi ngã tư S, hi đi đến hu v c ngã tư giao nhau trên Quốc lộ 13 thuộc khu phố 3B, phường T, thị ã B, tỉnh Bình Dương, o tránh n người đi đường, do hông làm chủ tốc độ nên bị cáo V điều hiển e lấn sang làn đường ành cho e môtô, leo lên lề đường và đ m vào nhà ông Lê Văn K, g y hậu quả làm ông K chết và thiệt hại về tài sản của gia đình ông K với tổng giá trị là 263.649.970 đồng.
Lời hai nhận tội của bị cáo phù hợp lời hai của những người tham gia tố t ng trong quá trình điều tra, biên bản hám nghiệm hiện trường, biên bản hám nghiệm phương tiện, biên bản iểm ê tài sản và các ch ng c , tài liệu đã được thu thập có tại hồ sơ v án. Theo quy định tại hoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình s năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009 quy định: Ng ờ nào đ ều h ển ph ng t ện g ao thông đ ờng bộ mà v phạm quy định về an toàn g ao th ng đ ờng bộ gây th ệt hạ cho tính mạng hoặc gây th ệt hạ ngh m tr ng cho sức hỏe, tà sản c a ng ờ h c, th bị phạt t ền từ năm tr ệu đồng đến năm m tr ệu đồng, cả tạo hông g am g ữ đến ba năm hoặc phạt tù từ s u th ng đến năm năm”, hoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình s năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009 quy định “Phạm tộ thuộc trong c c tr ờng hợp sau đây, th bị phạt tù từ ba năm đến m ờ năm”; điểm đ “Gây hậu quả rất ngh m tr ng”. Hành vi phạm tội của bị cáo V g y hậu quả làm một người chết và g y thiệt hại rất lớn về tài sản (263.649.970 đồng nên phải chịu trách nhiệm hình s với tình tiết định hung hình phạt tại điểm đ hoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình s năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009 là: “Gây hậu quả rất ngh m tr ng”. Vì vậy, Tòa án cấp sơ th m phạt bị cáo V phạm tội: “Vi phạm quy định về điều hiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm đ hoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình s năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009 là có căn c , đ ng người, đ ng tội và đ ng pháp luật.
Đối với háng cáo yêu cầu tăng hình phạt: Đại iện hợp pháp của bị hại yêu cầu tăng hình phạt nặng nhất của hung hình phạt đối với bị cáo V vì bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s . Xét, trong quá trình điều tra và tại phiên t a bị cáo có thái độ thành h n hai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và sau hi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu th ; bị cáo chưa có tiền án, tiền s , có hoàn cảnh hó hăn. Đ y là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s quy định tại điểm p hoản 1, hoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình s năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009. Đồng thời, bị cáo hông có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình s . Do đó, T a án cấp sơ th m phạt bị cáo V 03 năm 06 tháng tù là phù hợp nên hông có cơ s chấp nhận háng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo V.
Tại phiên t a ph c th m, người đại iện hợp pháp của người bị hại là ông Nguy n Văn T yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại tổng cộng số tiền 3.226.000.000 đồng; trong đó: Chi phí mai táng 305.900.000 đồng, chi phí ọn ẹp vệ sinh 4.800.000 đồng; thiệt hại tài sản 682.230.000 đồng, thiệt hại thu nhập bị mất là 820.000.000 đồng, thiệt hại tổn thất về tinh thần, thiệt hại o hông làm việc được là 1.000.000.000 đồng, thiệt hại o thu nhập bị mất của c a hàng điện thoại 143.100.000 đồng và thiệt hại o mất thu nhập inh oanh ăn uống, giải hát 270.000.000 đồng.
X t thấy, về yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần, thiệt hại o hông làm việc được là 1.000.000.000 đồng, yêu cầu bồi thường chi phí mai táng số tiền 305.900.000 đồng. Theo quy định tại Điều 591 của Bộ luật D n s năm 2015 và hướng n tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Th m phán T a án nh n n Tối cao thì thiệt hại o tính mạnh bị m phạm bao gồm: “Ch phí hợp l cho v ệc ma t ng và hoản t ền để bù đắp t n thất về t nh th n cho hàng thừ ế thứ nhất nh ng hông qu
l n mức l ng c s ”. Tòa án cấp sơ th m chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường của người đại iện hợp pháp cho người bị hại về chi phí cho việc mai táng, gồm các hoản: tiền mua quan tài 80.000.000 đồng; tiền mua huyệt mộ 43.000.000 đồng; tiền mua hương, nến 2.400.000 đồng; tiền thuê e tang 11.000.000 đồng và hoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho hàng thừa ế th nhất là 100.000.000 đồng, tổng cộng là 236.400.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên hông chấp nhận yêu cầu háng cáo của đại iện ủy quyền của người đại iện hợp pháp cho bị hại.
Về yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản: Bao gồm các chi phí y ng lại nhà, mua sắm lại các vật ng bị thiệt hại với tổng số tiền 682.230.000 đồng. Tại phiên tòa người đại iện ủy quyền của người đại iện hợp pháp cho bị hại đồng với biên bản iểm ê tài sản nhưng hông đồng với giá tài sản bị thiệt hại như ết luận của Hội đồng định giá trong tố t ng thị ã B ngày 10/7/017. Hội đồng t
xét thấy: Kết luận về giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng thị ã B đã căn c vào các quy định hiện hành của Nhà nước về giá tài sản tại thời điểm định giá có hấu hao giá trị s
ng là đ ng pháp luật. Vì vậy, theo quy định tại Điều 589 của Bộ luật D n s năm 2015, có căn c để ác định tổng thiệt hại về tài sản của bị hại là 263.649.970 đồng như ết luận của Hội đồng định giá. Do đó, T a án cấp sơ th m chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản với số tiền 263.649.970 đồng là có căn c đ ng quy định của pháp luật nên không chấp nhận yêu cầu háng cáo của người đại iện ủy quyền của người đại iện hợp pháp cho bị hại.
Đối với các yêu cầu bồi thường thiệt hại hác: Thiệt hại thu nhập bị mất là 820.000.000 đồng, thiệt hại o hông làm việc được là 1.000.000.000 đồng, thiệt hại o thu nhập bị mất của c a hàng điện thoại 143.100.000 đồng và thiệt hại o mất thu nhập inh oanh ăn uống, giải hát 270.000.000 đồng. Các yêu cầu này hông phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng t
hông chấp nhận.
Đối với bị cáo V và bị đơn n s Công ty TNHH H đồng với bản án sơ th m và hông chấp nhận háng cáo của đại iện ủy quyền của Bà T, bà L, bà L1, ông S, đề nghị Hội đồng t giữ nguyên bản án sơ th m là có cơ s nên được chấp nhận.
Đại iện Viện Kiểm sát tham gia phiên t a đề nghị giữ nguyên bản án sơ th m là có cơ s được chấp nhận.
Các phần hác của quyết định án sơ th m hông có háng cáo, háng nghị đã có hiệu l c pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
n phí hình s ph c th m: Những người đại iện hợp pháp của bị hại là bà Lê Thị T, bà Lê Kim L, bà Lê Kim L1, ông Lê Thanh S hông phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c điểm a hoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố t ng hình s năm 2015;
1. Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của người đại iện hợp pháp của bị hại là bà Lê Thị T, bà Lê Kim L, bà Lê Kim L1, ông Lê Thanh S; giữ nguyên Bản án hình s sơ th m số 153/2017/HS-ST ngày 27/10/2017 của T a án nh n n thị xã B.
p ng điểm đ hoản 2 Điều 202; điểm p hoản 1, hoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình s năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009.
X phạt bị cáo Bùi Quang V 03 (ba năm 06 (sáu tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều hiển phương tiện giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2017.
2. Về trách nhiệm n s : p ng Điều 42 của Bộ luật Hình s năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009; áp ng các Điều 584, 589, 591 và 601 của Bộ luật D n s năm 2015;
Buộc Công ty TNHH H phải bồi thường cho bà Lê Thị T, Ông Lê Thanh P, bà Lê Kim L, bà Lê Kim L1 và ông Lê Thanh S số tiền 500.049.970 đồng (năm trăm triệu hông trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm bảy mươi đồng .
Kể từ ngày án có hiệu l c thi hành và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán hoặc thanh toán hông đầy đủ thì hàng tháng c n phải chịu hoản tiền lãi bằng m c lãi suất quy định tại hoản 2 Điều 468 của Bộ luật D n s năm 2015, tương ng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án n s thì người được thi hành án n s , người phải thi hành án n s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án n s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án n s .
3. Án phí hình s ph c th m: Người đại iện hợp pháp của người bị hại là bà Lê Thị T, bà Lê Kim L, bà Lê Kim L1, ông Lê Thanh S hông phải nộp.
4. Các quyết định hác của bản án sơ th m hông có háng cáo, hông bị háng nghị đã có hiệu l c pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
Bản án ph c th m có hiệu l c pháp luật ể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh BD; - Ph ng PV 27 CA tỉnh BD; - TAND tx B; - VKSND tx B; - Chi c c THADS tx B; - Công an tx B; - Bị cáo; - NĐDHP của bị hại; - Tổ HCTP; - S Tư pháp tỉnh BD; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã Nguyễn Hu nh Đ c 1 |