- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Sầm Thanh V với anh Nguyễn Hồng L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:11/2018/HNGĐ-ST Ngày 17-7 - 2018 V/v “Tranh chấp ly hôn, con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lương Thị Thúy Lan;
2. Bà Phạm Thị Lan Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu V - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2018 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 50/2018/TLST-.HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn, con chung ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2018/QĐXX-ST ngày 08 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Sầm Thanh V, sinh 1989 ( có mặt)
Nơi cư trú: TDP 3, phường T, TP Sông Công, Thái Nguyên.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng L, sinh 1988 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: TDP 3, phường T, TP Sông Công, Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai và trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Sầm Thanh V trình bày:
- Về tình cảm vợ chồng: Chị và anh L kết hôn năm 2012, trước khi kết hôn có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình L, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, hôn nhân là tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không còn hợp nhau thường xuyên bất đồng quan điểm sống, vợ chồng luôn đánh cãi chửi nhau nên đã ly thân từ năm 2014 cho đến nay, hiện đôi bên không còn quan tâm chăm sóc nhau, nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn. Đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Hồng L.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Nguyễn Khắc Q, sinh 13/11/2012, hiện con chung đang ở với chị, khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi con chung, chị yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng. Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại bản tự khai và trong quá trình xét xử anh Nguyễn Hồng L trình bày:
- Về tình cảm vợ chồng: Vợ chồng kết hôn năm 2012, trước khi kết hôn có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện H, tỉnh C. Hôn nhân là tự nguyện, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn hợp nhau thường xuyên bất đồng quan điểm sống, luôn cãi nhau, vợ chồng đã ly thân từ năm 2014 cho đến nay, hiện không ai còn quan tâm chăm sóc ai. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị V có đơn xin ly hôn anh đồng ý.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Nguyễn Khắc Q, sinh 13/11/2012. Hiện con chung đang ở với chị V. Khi ly hôn đề nghị được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do các đương sự không tự thỏa thuận được về việc nuôi con chung, vụ kiện được đưa ra xét xử tại phiên toà công khai. Tại phiên tòa, chị V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, về cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại phiên toà, đại diện VKS nhân dân thành phố Sông Công phát biểu quan điểm Đây là vụ án “ Tranh chấp Hôn nhân và gia đình ” căn cứ Điều 28, 35, 39 BLTTDS Tòa án nhân dân thành phố Sông Công thụ lý là đúng thẩm quyền.Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án, đã được thực hiện theo đúng trình tự tố tụng. Không có vi phạm, không có đề xuất kiến nghị gì.
* Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án :
Căn cứ điều 58, 81, 82, 83 luật Hôn nhân và gia đình
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Sầm Thanh V với anh Nguyễn Hồng L.
Chị Sầm Thanh V được ly hôn anh Nguyễn Hồng L.
- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu xin trực tiếp nuôi con chung của chị V, giao con chung cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị V không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh L.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án Phí: Chị V chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Sầm Thanh V khởi kiện xin ly hôn và đề nghị giải quyết về con chung với bị đơn là anh Nguyễn Hồng L. Bị đơn đang cư trú tại phường Mỏ Chè, thuộc thành phố Sông Công. Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Về sự vắng mặt người tham gia tố tụng : Anh Nguyễn Hồng L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với Nguyễn Hồng L
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Sầm Thanh V và anh Nguyễn Hồng L kết hôn năm 2012. Trước khi kết hôn có tìm hiểu, hôn nhân là do tự nguyện, vợ chồng có làm đám cưới theo phong tục tập quán địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình L, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, nên thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Chị V có đơn xin ly hôn, anh L nhất trí ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, chị V và anh L tuy mới kết hôn nhưng đã nhiều lần xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi chửi, xúc phạm lẫn nhau, cả hai bên đều thừa nhận trong cuộc sống không có sự hòa hợp, Mặc dù đã được gia đình hai bên động viên, hòa giải nhiều lần nhưng những bất đồng vẫn liên tục xẩy ra, không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Vợ chồng ly thân từ 2014 cho đến nay, đôi bên không còn quan tâm chăm sóc nhau. Tại phiên tòa ngày hôm nay Hội đồng xét xử đã động viên hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị V vẫn kiên quyết xin ly hôn do tình cảm với anh L đã không còn. Xét thấy, nền tảng cơ bản của hôn nhân là sự yêu thương tự nguyện của cả hai vợ chồng, nhưng đến nay đã không còn nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng không thể hàn gắn nên yêu cầu xin ly hôn của chị V được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Phía anh L cũng thừa nhận từ khi kết hôn vợ chồng đã xẩy ra nhiều lần sô sát, vợ chồng thường xuyên đánh, cãi, chửi nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình nội ngoại khuyên giải nhưng không có kết quả. Bản thân anh L cũng đã dùng đầy đủ các biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng nhưng chị V vẫn kiên quyết xin ly hôn,vợ chồng không thể hòa hợp. Điều đó chứng minh hôn nhân của chị V, anh L đã rạn nứt, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng không thể hàn gắn, cuộc sống chung không thể kéo dài, hôn nhân không đạt được mục đích. Quá trình giải quyết chị V xin ly hôn, anh L nhất trí, tại phiên tòa anh L vắng mặt nên hội đồng không ghi nhận sự thuận tình ly hôn của đôi bên, mà giải quyết cho đôi bên ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị Sầm Thanh V và anh Nguyễn Hồng L trong quá trình chung sống đã có 01 con chung là Nguyễn Khắc Q, sinh 13/11/2012. Khi ly hôn chị V, anh L đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét yêu cầu đươc trực tiếp nuôi con chung của chị V, Hội đồng xét xử thấy: Về thu nhập thực tế đảm bảo cho việc nuôi con chung, chị V làm kinh doanh tại Hòa An, tỉnh Cao Bằng, có việc làm và thu nhập ổn định. Hơn nữa Cháu Nguyễn Khắc Q, sinh 13/11/2012 dưới 7 tuổi, con chung còn nhỏ. Hiện tại cháu Q đang ở cùng chị V, được chị V nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo, cháu phát triển bình thường. Chị V hiện có nghề nghiệp và thu nhập, chỗ ăn ở ổn định tại nhà bố mẹ đẻ ở Hòa An, Cao Bằng. Về giờ giấc làm việc chị V làm kinh doanh nên chủ động về thời gian, có đủ thời gian và điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh L tuy thu nhập ổn định, nhưng công việc của anh L là lái xe, nên thường xuyên phải đi công tác xa, nên sẽ không đảm bảo cho việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Từ những phân tích trên để đảm bảo sự phát triển toàn diện của con, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em sau ly hôn. căn cứ vào Điều 81, 82, 83 luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử thấy cần thiết nên tiếp tục giao cháu Nguyễn Khắc Q, sinh 13/11/2012 cho chị Sầm Thanh V nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Sầm Thanh V không yêu cầu anh L cấp dưỡng cấp dưỡng nuôi con chung, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh L cho đến khi chị V có yêu cầu. Anh L được quyền đi lại thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung
Về tài sản chung: Chị Sầm Thanh V và anh Nguyễn Hồng L xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Sầm Thanh V phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, 147,Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Sầm Thanh V với anh Nguyễn Hồng L.
Chị Sầm Thanh V được ly hôn anh Nguyễn Hồng L.
2. Về con chung:
- Giao cho chị Sầm Thanh V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung Nguyễn Khắc Q, sinh 13/11/2012.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Sầm Thanh V không yêu cầu anh Nguyễn Hồng L cấp dưỡng nuôi con chung, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh L cho đến khi chị V có yêu cầu. Anh L có quyền đi lại thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung: Không có. không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về công nợ: Không có.
5. Về án phí: Chị Sầm Thanh V phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai thu số 0010903 ngày 08 tháng 5 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho biết đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết hợp lệ kết quả xét xử.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh; - VKSND cùng cấp ; - Chi cục Thi hành án cùng cấp; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Bình |