vanban.org

Bản án 11/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H đối với ông Lê Văn K.

Tuyên xử: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964, được ly hôn với ông Lê Văn K, sinh năm 1963. Giấy chứng nhận kết hôn số 434/1983 ngày 03.10.1983 của UBND xã HK, huyện H, TP Đà Nẵng không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hộ-Lê Văn Kiên"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H đối với ông Lê Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN ND Q.LIÊN CHIỂU
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2018/HNGĐ-ST
Ngày 16.3.2018
V/v tranh chấp: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:ông Phạm Hồng Quang và bà Trƣơng Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên toà: ÔngKhuất Duy Toàn - Cán bộ Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 16 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 500/2017/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2017 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2018/QĐ-HNGĐ ngày 28.02.2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H - Sinh năm 1964. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Lê Văn K - Sinh năm 1963. (vắng mặt lần 2 không lí do).

Cùng trú tại: Tổ58 (mới)142 (cũ), phường HKN, quận L, Tp Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụánvà tại phiên toà hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân:Tôi và ông Lê Văn K kết hôn năm 1983 có đăng ký kết hôn tại UBND xã HK, huyện H, TP Đà Nẵng nay là UBND phường HKN, quận L, TP Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.

Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống tại tổ142 cũ, phường HKN, quận L, Tp Đà Nẵng.

Trong thời gian chung sống vợ chồng luôn phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông K thường xuyên nhậu về nhà say xỉn, đánh đập hành hạ tôi một cách vô cớ, đỉnh điểm là ngày 20.01.2017 sau khi nhậu xong ông K về nhà gây sự và xúc phạm đến cả gia đình tôi, quá bức xúc nên tôi đã dọn ra sống riêng. Bản thân tôi đã quá thất vọng, mệt mỏi nên nguyện vọng về quan hệ hôn nhân tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Lê Văn K.

- Về quan hệ con chung:Tôi và ông Lê Văn K có 05 con chung là:

+ Lê Anh T1 - sinh ngày 08.3.1984.

+ Lê Anh T2 - sinh ngày 20.3.1986.

+ Lê Anh T3 - sinh ngày 05.9.1989.

+ Lê Anh T4 - sinh ngày 25.12.1993.

+ Lê Thị Tuyết T - sinh ngày 24.9.1998.

Hai con Lê Anh T2 và Lê Anh T3 đã lập gia đình, còn ba con chung Lê Anh T1, Lê Anh T4 và Lê Thị Tuyết Tr đang sống chung với ông Lê Văn K. Các con chung đã đủ tuổi trưởng thành nên không đề cập đến.

- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị H khai nhận không có.

* Bị đơn là ông Lê Văn K không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 12.01.2017, không tham gia phiên hòa giải vào ngày 31.01.2018 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

.Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn Kthuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của BLTTDS. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 28.02.2018 và cũng như phiên toà hôm nay Toà án đã triệu tập, niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà đối với bị đơn là ông Lê Văn K, nhưng ông Lê Văn Kvẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt ông Lê Văn Kiên.

.Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Lê Văn K thì thấy:

- Về quan hệ hôn nhân:Bà Nguyễn Thị Hvà ông Lê Văn K kết hôn năm 1983 có đăng ký kết hôn tại UBND xã HK, huyện H, TP Đà Nẵng nay là UBND phường HKN, quận L, TP Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại tổ142 cũ, phường HKN, quận L, Tp Đà Nẵng.

Theo bà Nguyễn Thị H trình bày trong thời gian chung sống vợ chồng bà luôn phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông K thường xuyên nhậu về nhà say xỉn, đánh đập hành hạ bà H một cách vô cớ, đỉnh điểm là ngày 20.01.2017 sau khi nhậu xong ông K về nhà gây sự và xúc phạm đến cả gia đình bà H, quá bức xúc nên bà H đã dọn ra ngoài sống riêng.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên nguyện vọng về quan hệ hôn nhân bà Nguyễn Thị Hđề nghị Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Lê Văn K.

Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị đơn là ông Lê Văn K mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H. Theo đơn xác nhận tại UBND phường HKN, quận L, Tp Đà Nẵng thì cuộc sống vợ chồng giữa bà H và ông K thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã đánh nhau. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông Kđãđến mức trầm trọng, đời sốngchung không thể kéo dài và mụcđích của hôn nhân không đạtđược. Do đó, việc bà Nguyễn Thị H yêu cầu Toàán giải quyết cho ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tạiĐiều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hộiđồng xét xử chấp nhận.

- Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị H khai nhận có 05 con chung là:

+ Lê Anh T1 - sinh ngày 08.3.1984.

+ Lê Anh T2 - sinh ngày 20.3.1986.

+ Lê Anh T3 - sinh ngày 05.9.1989.

+ Lê Anh T4 - sinh ngày 25.12.1993.

+ Lê Thị Tuyết Tr - sinh ngày 24.9.1998.

Các con chung đã đủ tuổi trưởng thành nên , nên HĐXX không xét.

- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị H khai nhận không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Văn K cũng không có ý kiến gì đối với tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Nếu sau này bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn K có tranh chấp về vấn đề tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

- Về án phí:Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì: bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:Các Điều 51, 53, 54,56Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H đối với ông Lê Văn K.

Tuyên xử: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964, được ly hôn với ông Lê Văn K, sinh năm 1963.

Giấy chứng nhận kết hôn số 434/1983 ngày 03.10.1983 của UBND xã HK, huyện H, TP Đà Nẵng không còn giá trị pháp lý.

2. Về án phí:

- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà Nguyễn Thị H phải nộp, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số0000841ngày 15.12.2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng. Như vậy, bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay.

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ