vanban.org

Bản án 11/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 10/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Hải M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Hải M 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08-6-2017. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 41 Bộ luật Hình sự, khoản 2 điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hải M - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hải M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TAND HUYỆN CÔN ĐẢO
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2017/HSST
Ngày 10-8-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đức Hiếu

2. Ông Lê Mạnh Hậu

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Hùng Cường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thạch - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2017/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2017/HSST-QĐ ngày 25 tháng 5 năm 2017 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với bị cáo:

Lê Hải M - sinh năm 1980 tại TP Hồ Chí Minh; hktt: Hùng Vương, phường A, quận B, TP Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nhân viên Văn phòng; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Lê Ngọc H, sinh năm: 1952 và bà Dương Thị N, sinh năm: 1956 ; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 3 anh em.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 12/4/2015, bị Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 04 tháng 02 ngày tù (bằng thời hạn tạm giam) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị bắt ngày 08/6/2017. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua công tác kiểm tra hành chính, Công an huyện Côn Đảo phát hiện Lê Hải M ở tại Khu dân cư số 6, huyện Côn Đảo nhưng không đăng ký tạm trú. Quá trình làm việc tại Công an huyện vào ngày 09/11/2016, M khai nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy. Đến 18 giờ cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện tiến hành khám xét chỗ ở của M tại Tôn Đức Thắng, Khu dân cư số 6, huyện Côn Đảo phát hiện một gói nylon hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, Minh khai nhận là ma túy đá.

Kết luận giám định số: 210/GĐ-PC54 ngày 16-11-2016 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, kết luận chất kết tinh không màu trong suốt bên trong gói nylon hàn kín hai đầu nói trên là loại ma túy có tên gọi Methamphetamine, trọng lượng 0,3048 gram.

Bản cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 21-3-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Lê Hải M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm đúng như cáo trạng truy tố. Tuy nhiên, cần áp dụng quy định có lợi cho bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 theo đúng hướng dẫn tại khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29-6-2016 của Quốc hội. Bên cạnh đó, quá trình tố tụng bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; bản thân bị cáo đang bị HIV giai đoạn cuối nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ quan điểm trên, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lê Hải M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999, xử phạt bị cáo từ 01 (một) đến 02 (hai) năm tù; Và tuyên về xử lý vật chứng.

Bị cáo Lê Hải M không tranh luận gì thêm chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 09-11-2016, qua công tác kiểm tra hành chính và khám xét chỗ ở của Lê Hải M tại Khu dân cư số 6, huyện Côn Đảo, Công an huyện Côn Đảo đã thu giữ một gói nylon hàn kín hai đầu bên trong có chứa 0,3048 gram Methamphetamine (theo kết luận giám định) mà bị cáo đang tàng trữ trong hộc tủ phòng bị cáo ở.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận điều tra của Công an huyện Côn Đảo, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Mặc dù định lượng chất ma túy mà bị cáo tàng trữ chưa đủ trọng lượng phải truy tố hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo hướng dẫn tại điểm 3.6 mục II của Thông tư liên tịch số 17/2007/TLLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24-12-2007, nhưng ngày 12-4-2016, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích, nay lại tái phạm. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự, đúng như hướng dẫn tại điểm 3.7 mục II của Thông tư liên tịch số 17 nói trên. Tuy nhiên, cần áp dụng quy định có lợi cho bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 theo như hướng dẫn tại khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29-6-2016 của Quốc hội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma túy là chất gây nghiện độc hại, là hiểm họa cho xã hội, trực tiếp gây ra các tệ nạn khác, dẫn đến làm hư hỏng trong lối sống của một bộ phận thanh thiếu niên hiện nay. Bị cáo là công dân đã trưởng thành, hơn nữa lại có trình độ Đại học, đủ nhận thức để biết được tác hại của ma tuý. Bản thân bị cáo cũng là con nghiện nên hiểu rõ tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện và nhằm răn đe phòng ngừa chung chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo về hành vi tàng trữ trái phép ma túy của mình, bản thân bị cáo đang bị HIV giai đoạn cuối; đồng thời, cha bị cáo là thương binh hạng 4/4, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên xem xét áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của người đàn ông không rõ lai lịch tại TP Hồ Chí Minh, yêu cầu Cơ quan điều tra Công an huyện tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng trong vụ án hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo theo Biên bản giao nhận vật chứng số 09/BB/17 ngày 22-3-2017.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo, bị cáo được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Hải M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29-6-2016 của Quốc hội, điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999:

Xử phạt bị cáo Lê Hải M 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08-6-2017.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 41 Bộ luật Hình sự, khoản 2 điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì gửi giám định (đã được niêm phong) được hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 210/GĐ-PC54 bên trong có chứa 0,3048 gam chất ma túy còn lại sau giám định;

- 02 (hai) ống thủy tinh đường kính 0,5cm, dài 10,5cm; 01 (một) ống thủy tinh đường kính 0,5cm, dài 14cm; 01 (một) bình thủy tinh kích thước 4,5x4,5x13cm được niêm phong trong một hộp giấy có đóng dấu Ban điều hành khu dân cư số 06, huyện Côn Đảo.

Toàn bộ số vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 09/BB/17 ngày 22/3/2017 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo và Công an huyện Côn Đảo.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ