- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 91/2015/QH13 Về chương trình hoạt động giám sá…; Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1096/2026/DS-ST Ngày: 29/5/2026 V/v : Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Duy Minh Chính
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Thái Thục Hiền.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Phương Vy – Thư ký của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dịu Thuỳ – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 tháng 5 và ngày 29 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 843/2025/TLST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh, về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 824/2026/QĐXXST-DS ngày 20/4/2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 1964/2026/QĐST-DS ngày 14/5/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V
Địa chỉ: Số H L, phường Đ, Thành phố Hà Nội;
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Văn T; Sinh năm 2004;
Địa chỉ liên hệ: Tầng F, số A L, phường G, Thành phố Hồ Chí Minh;
Theo Văn bản ủy quyền số 993/2026/UQ-KHCN ngày 05/5/2026.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đức H; Sinh năm: 1987; CMND số: xxxxxxxxx
Nơi cư trú: Số B đường L, Khu phố A, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, nguyên đơn thông qua đại diện hợp pháp trình bày: Bà Nguyễn Thị Đức H có vay vốn tại Ngân hàng TMCP V (Sau đây gọi là V1) theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 03/02/2021 (Hợp đồng số thẻ 005-P-2572890), cụ thể như sau:
- Số tiền cấp hạn mức: 50.000.000;
- Mục đích vay: Phục vụ nhu cầu đời sống;
- Thời hạn vay: 60 tháng.
- Lãi suất cho vay theo quy định của V1 từng thời kỳ (Được niêm yết tại
website ).
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà H đã sử dụng thẻ tín dụng và đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 41.532.894 đồng, trong đó: Tiền gốc là 10.766.382 đồng; Tiền lãi là 26.972.542 đồng; Tiền phí là 3.793.970 đồng. Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ, toàn bộ khoản vay của bà Hậu bị chuyển sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn kể từ ngày 07/4/2022.
Tạm tính đến ngày 29/05/2026, bà còn nợ Ngân hàng theo hợp đồng trên là:
- Nợ gốc: 45.125.569 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 149.825.834 đồng.
- Tổng cộng: 194.951.403 đồng.
Do bà Nguyễn Thị Đức H vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, V1 khởi kiện và đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết:
1. Buộc bà Nguyễn Thị Đức H phải thanh toán ngay cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng nêu trên, tạm tính đến ngày 29/5/2026 tổng cộng là: 194.951.403 đồng (Bằng chữ: Một trăm chín mươi tư triệu chín trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm linh ba đồng) trong đó nợ gốc là 45.125.569 đồng và nợ lãi quá hạn là 149.825.834 đồng do vi phạm Hợp đồng nêu trên.
2. Bà Nguyễn Thị Đức H tiếp tục phải trả lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận kể từ ngày 30/5/2026 cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số nợ vay cho Ngân hàng V1.
3. V1 xác định chỉ cho cá nhân bà Nguyễn Thị Đức H vay vốn, không liên quan đến người khác; do đó chỉ yêu cầu cá nhân bà H có nghĩa vụ thanh toán nợ, không yêu cầu người khác liên đới chịu trách nhiệm và không đề nghị đưa thêm người tham gia tố tụng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để tự khai, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng và không có bất kỳ văn bản nào phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không thể thu thập được ý kiến của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi xét xử, thấy rằng:
- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng:
Trong suốt quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục thụ lý; Việc thu thập, đánh giá chứng cứ và triệu tập đương sự tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự tiến hành phiên tòa sơ thẩm. Về thời hạn chưa đảm bảo thời hạn tố tụng theo quy định.
Nguyên đơn và đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn Nguyễn Thị Đức H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng, không gửi ý kiến bằng văn bản, vi phạm nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Việc Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo Khoản 1 Điều 228; xét xử vắng mặt bị đơn theo điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là có căn cứ, đúng quy định.
- Về nội dung vụ án:
Về hiệu lực hợp đồng:
Bà Nguyễn Thị Đức H đã ký kết và sử dụng thẻ tín dụng tại V1 theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ (Hợp đồng số thẻ 005-P-2572890) ký ngày 03/02/2021 với hạn mức 50.000.000 đồng, thời hạn 60 tháng. Hợp đồng được giao kết trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Bộ luật Dân sự năm 2015. Hợp đồng có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
Về nghĩa vụ thanh toán:
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, V1 đã cấp hạn mức tín dụng đầy đủ. Bà Nguyễn Thị Đức H không thực hiện đầy đủ, đúng hạn nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận, vi phạm quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đây là hành vi vi phạm hợp đồng có cơ sở xác định rõ ràng.
Về số tiền yêu cầu:
Tính đến ngày 29/5/2026, tổng dư nợ bà Nguyễn Thị Đức H phải thanh toán cho V1 là: 194.951.403 đồng (Bằng chữ: Một trăm chín mươi tư triệu chín trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm linh ba đồng) trong đó nợ gốc là 45.125.569 đồng và nợ lãi quá hạn là 149.825.834 đồng. Việc tính lãi phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Khoản 4 Điều 13 và Khoản 5 Điều 14 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N.
Về lãi phát sinh sau ngày xét xử:
Hợp đồng tín dụng có thỏa thuận cụ thể về lãi suất quá hạn và lãi chậm trả, phù hợp với các quy định pháp luật nêu trên. Yêu cầu tiếp tục tính lãi trên số dư nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 30/5/2026 cho đến khi thanh toán xong là có căn cứ pháp luật, cần được chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.
- Buộc bà Nguyễn Thị Đức H thanh toán một lần toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 29/5/2026 là 194.951.403 đồng, đồng thời tiếp tục chịu lãi phát sinh trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất và phương thức đã thỏa thuận trong hợp đồng, kể từ ngày 30/5/2026 đến khi thanh toán xong.
- Buộc bị đơn chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Đức H thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ đã ký kết. Tranh chấp phát sinh từ quan hệ vay vốn giữa tổ chức tín dụng và cá nhân, do đó quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại Hợp đồng số 005-P-2572890 ký ngày 03/02/2021 bà H xác định nơi cư trú tại B N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cũ nay là số B đường L, Khu phố A, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả xác minh của Công an phường P, Thành phố Hồ Chí Minh và Công an xã T, Thành phố Hồ Chí Minh xác định bà H có đăng ký thường trú tại B L, Khu phố A, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện không rõ nơi cư trú hiện nay của bà H. Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 3 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập đến bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng tại phiên họp ngày 03/4/2026; phiên hòa giải không tiến hành được.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Nguyên đơn thông qua đại diện hợp pháp có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về yêu cầu của đương sự:
Về hiệu lực hợp đồng:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định: Bà Nguyễn Thị Đức H đã ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử với V1 ký ngày 03/02/2021 (Hợp đồng số 005-P-2572890), với hạn mức 50.000.000 đồng, thời hạn 60 tháng. V1 đã cấp hạn mức tín dụng cho bà H theo hợp đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng nêu trên được giao kết trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, hợp đồng có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ ràng buộc các bên.
Về hành vi vi phạm nghĩa vụ của bị đơn:
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Đức H đã sử dụng thẻ tín dụng và đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 41.532.894 đồng, trong đó: Tiền gốc là 10.766.382 đồng; Tiền lãi là 26.972.542 đồng; Tiền phí là 3.793.970 đồng. Bà H đã không thực hiện đầy đủ, đúng hạn nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo thỏa thuận, dẫn đến toàn bộ khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 07/4/2022. Hành vi này vi phạm nghĩa vụ của bên vay quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về số tiền nợ và căn cứ xác định:
Mặc dù Tòa án đã tạo đầy đủ điều kiện để bị đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn vẫn không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ phản đối yêu cầu khởi kiện, không đưa ra yêu cầu phản tố và không đề nghị thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình. Hành vi này vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đồng thời được xem là từ bỏ quyền trình bày ý kiến, quyền chứng minh và quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong quá trình giải quyết vụ án.
Do đó, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá yêu cầu khởi kiện trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án.
Căn cứ Bảng tóm tắt sao kê thẻ số 005-P-2572890 do V1 lập, tính đến ngày 29/5/2026, tổng số tiền bà Nguyễn Thị Đức H còn nợ V1 là 194.951.403 đồng (Bằng chữ: Một trăm chín mươi tư triệu chín trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm linh ba đồng), trong đó: Nợ gốc: 45.125.569 đồng; Nợ lãi quá hạn: 149.825.834 đồng.
Các khoản lãi được tính phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Khoản 4 Điều 13 và Khoản 5 Điều 14 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N.
Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ pháp luật, cần được chấp nhận toàn bộ.
Về lãi phát sinh sau thời điểm xét xử:
Tại Hợp đồng số 005-P-2572890, các bên đã thỏa thuận cụ thể về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, lãi chậm trả và thống nhất bên vay phải tiếp tục chịu lãi trên số dư nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ. Thỏa thuận này phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Khoản 4 Điều 13 và Khoản 5 Điều 14 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN. Do bị đơn chưa thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ, bà Nguyễn Thị Đức H phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên số dư nợ gốc chưa thanh toán, kể từ ngày 30/5/2026 cho đến khi thanh toán xong, theo đúng mức lãi suất và phương thức tính lãi đã thỏa thuận trong hợp đồng. Yêu cầu của nguyên đơn về lãi phát sinh sau ngày xét xử có căn cứ pháp luật, cần được chấp nhận.
Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
- Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13;
Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 01/7/2025 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Điều 3 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;
Áp dụng:
- Các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13;
- Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng N;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.
2. Buộc bà Nguyễn Thị Đức H (Sinh năm 1987; CMND số: xxxxxxxxx) phải thanh toán một lần toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 29/5/2026 cho Ngân hàng TMCP V theo Hợp đồng số 005-P-2572890, cụ thể:
Nợ gốc
:
45.125.569 đồng
Nợ lãi
: 149.825.834 đồng
Tổng cộng : 194.951.403 đồng
(Bằng chữ: Một trăm chín mươi tư triệu chín trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm linh ba đồng)
3. Kể từ ngày 30/5/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, bà Nguyễn Thị Đức H còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất và phương thức tính lãi đã thỏa thuận trong Hợp đồng số 005-P-2572890 ký ngày 03/02/2021.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
4.1. Bà Nguyễn Thị Đức H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 9.747.570đ (Chín triệu bảy trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm bảy mươi đồng). Nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4.2. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.420.524đ (Ba triệu bốn trăm hai mươi nghìn năm trăm hai mươi bốn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0023129 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Phòng THADS KV10-TP.HCM; - THA DS TP.HCM; - VKSND KV10-TP.HCM; - TAND TP.HCM; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lương Duy Minh Chính |