- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Th xin ly hôn ông T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ Th về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1095/2022/HNGĐ-ST Ngày: 15/9/2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Doãn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Thái Thục Hiền
2/ Ông Đoàn Văn Rỹ
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Hồng Đào – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 565/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2022 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 310/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 216/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ Th, sinh năm 1970
Địa chỉ: số 432A/16/23D DBT, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966
Địa chỉ thường trú: số 35/119/19 CL, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ cư trú: số 35/119/15 CL, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện nộp tại Tòa vào ngày 25/4/2022 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Lệ Th trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn T chung sống có đăng ký kết hôn vào năm 1988 tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 34, quyển số 02 ngày 04/01/1988. Quá trình chung sống do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vả, xung đột, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Sau nhiệu lần hòa giải, hàn gắn gia đình nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày cáng trầm trọng; cả hai đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, gia đình không hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Về con chung: Bà Th và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Hoài Thu Tr, sinh ngày 14/7/1991 và Nguyễn Xuân Đ, sinh ngày 04/5/1989. Hiện nay, các con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống bà và ông T không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để tự khai, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông Nguyễn Văn T không đến Tòa án theo giấy triệu tập và cũng không có bất kỳ văn bản nào phản hồi yêu cầu khởi kiện của bà Thnên Tòa án không thể thu thập được lời khai của ông T. Tại phiên tòa, Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Lệ Th có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa Bị đơn – ông Nguyễn Văn T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Về nội dung vụ án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại các Điều 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Lệ Th và ông Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn, bà Th yêu cầu ly hôn với ông T, xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về “tranh chấp ly hôn”. Hiện nay, bị đơn là ông Nguyễn Văn T đang cư trú tại Quận 8 (Theo kết quả xác minh của Công an Phường 04, Quận 8) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. [2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ Th có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt bà Th . Bị đơn ông Nguyễn Văn T, Tòa án đã triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng ông T vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt ông T. [3] Về yêu cầu của các đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 34, quyển số 02 do Ủy ban nhân dân xã Xuân Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang ngày 04/01/1988, cùng lời khai của bà Thvề việc các đương sự tự nguyện kết hôn với nhau, nên đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà Th và ông T là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Th: Trong quá trình chung sống, bà Th và ông T xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm, tính tình. Mặc dù hai bên đã cố gắng hòa giải mâu thuẫn để vợ chồng hàn gắn nhưng không đạt được kết quả mà tình trạng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Vợ chồng bà đã không còn quan tâm đến nhau, sống ly thân từ năm 2016. Bà Th xác định vợ chồng không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân với ông T.
Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân chỉ đạt được mục đích trên cơ sở yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình, đồng thời vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau. Bà Th và ông T đã không tôn trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, Tòa án đã cho ông T và bà Th cơ hội để các bên giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn gia đình nhưng ông T không có thiện chí nên không có kết quả, bà Th vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với ông T. Do đó, việc chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Th là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: Bà và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Hoài Thu Tr, sinh ngày 14/7/1991 và Nguyễn Xuân Đ, sinh ngày 04/5/1989. Hiện nay, các con chung đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Th xác định bà và ông T không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Th phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ Th về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Lệ Th được ly hôn với ông Nguyễn Văn T. (Giấy chứng nhận kết hôn số 34, quyển số 02 do Ủy ban nhân dân xã Xuân Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang ngày 04/01/1988).
- Về con chung: Bà Thvà ông T có 02 con chung tên Nguyễn Hoài Thu Tr, sinh ngày 14/7/1991 và Nguyễn Xuân Đ, sinh ngày 04/5/1989. Các con chung đã thành niên.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự tự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét. 2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị Lệ Th phải chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Th đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0016929 ngày 09/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Th đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền. 3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Lệ Th, ông Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND.TPHCM; - VKSND Quận 8; - Chi cục THADS Quận 8; - UBND xã Xuân Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai; - Các đương sự; - Lưu: Vp, hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Doãn Thị Nga |