- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1-/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒAÁN NHÂNDÂN QUẬN THỦĐỨC THÀNHPHỐHỒ CHÍMINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1095/2018/HNGĐ-ST Ngày: 26/9/2018 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Khắc Hưng
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Châu Tiên
2. Bà Bùi Thị Phụng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngự - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thủ Đức.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 431/2018/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp: “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 298/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 243/2018/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1986
Địa chỉ: a Tỉnh lộ b, tổ 10, khu phố c, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Bị đơn: Ông Lâm Văn P, sinh năm 1984
Địa chỉ: a Tỉnh lộ b, tổ 10, khu phố c, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng của nguyên đơn bà L xác định: Bà và ông P chung sống với nhau từ 2008 đăng ký kết hôn vào năm 2009. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hành phúc, sau này phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông P không lo làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt về xúc phạm và đánh đập bà, vì vậy bất đồng giữa hai bên ngày càng trầm trọng. Bà đã từng nhiều lần tạo điều kiện cho ông P sửa đổi những sai lầm và khắc phục những thiếu xót để vợ chồng có cơ hội hàn gắn xây dựng hạnh phúc và nuôi dạy con cái nhưng không được. Hiện cả hai đã ly thân từ năm 2009, nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà xin ly hôn. Thời gian chung sống ông bà có 01 con chung tên M, sinh ngày 22/10/2009. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung bà L xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, nợ chung bà xác định không có.
Bị đơn ông P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt nên không có lời khai.
* Các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp:
- Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của bà L (bản sao), Chứng minh nhân dân của ông P (bản phô tô);
- Trích lục khai sinh (bản sao);
- Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính).
* Các tài liệu, chứng cứ do bị đơn cung cấp: Không có
* Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập:
- Phiếu xác minh ngày 15/5/2018 của Công an phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức;
- Công văn phúc đáp tình trạng hôn nhân và gia đình số 171/VHTT ngày 24/7/2018 của phòng Văn hóa và Thông tin quận Thủ Đức và Công văn số 582/LĐTB ngày 12/6/2018 của phòng Lao động Thương binh và Xã Hội quận Thủ Đức.
Đại diện Viện kiểm sát quận Thủ Đức trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về mặt tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Về mặt nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Giao con chung cho bà L nuôi dưỡng, ghi nhận việc bà L không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung không yêu cầu giải quyết; nợ chung không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Thủ Đức nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn bà L khởi kiện yêu cầu “Ly hôn” với ông P căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ông P cư trú tại quận Thủ Đức, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông P nhưng ông P vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông P.
Về nội dung:
Bà L và ông P chung sống với nhau từ năm 2009 có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01 quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 09/01/2009 nên là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Tại Tòa, bà L xác định giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông P. Căn cứ vào Công văn số 171/VHTT ngày 24/7/2018 của phòng Văn hóa và Thông tin quận Thủ Đức; Công văn số 582/LĐTB ngày 12/6/2018 của phòng Lao động Thương binh và Xã Hội quận Thủ Đức phúc đáp về tình trạng hôn nhân và gia đình được xác định phù hợp với nội dung tự khai của bà L. Có cơ sở xác định quá trình chung sống, hai ông bà có phát sinh nhiều mâu thuẫn, mặc dù đã có nhiều cơ hội hàn gắn nhưng không có kết quả. Quá trình tố tụng tại Tòa án, ông P đã được tống đạt văn bản tố tụng nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, thể hiện ý thức không muốn giữ gìn hạnh phúc gia đình. Như vậy mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu của bà L về việc xin ly hôn là có căn cứ để chấp nhận, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Về con chung: Có cơ sở xác định ông bà có 01 người con chung tên Lâm Ngọc Kiều My, sinh ngày 22/10/2009. Hiện nay do bà L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đảm bảo tốt về mọi mặt. Ông P đã được Tòa án thông báo về yêu cầu được nuôi con chung của bà L nhưng không có ý kiến, đồng thời cân nhắc đến điều kiện của nguyên đơn nên yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung của bà L sau khi ly hôn là có cơ sở, ghi nhận sự tự nguyện của bà L về việc không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận lời trình bày của nguyên đơn không yêu cầu giải quyết; nợ chung không có.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức là có cơ sở và phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí: Bà L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 51, 55, 56, 57, 58, 71, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Luật Phí và lệ phí;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp và quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1-/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà L.
Về quan hệ hôn nhân: Bà L được ly hôn với ông P.
Về con chung: Giao con chung tên M, sinh ngày 22/10/2009 cho bà L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, ghi nhận việc bà L tự nguyện không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.
Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung không có.
2-/ Về án phí: Bà L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0038685 ngày 24/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức.
3-/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Toà án ND TP.HCM; - Viện kiểm sát ND Q.Thủ Đức; - Chi cục THADS Q. Thủ Đức; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Các bên đương sự; - Lưu: hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Khắc Hưng |