vanban.org

Bản án 109/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 25/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đan A phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đan A 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 12/03/2026). Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1169 gam ma túy, loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói quản lý của Nguyễn Đan A trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định, bê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đan A Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đan A phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2026/HS-ST
Ngày: 25 – 5 – 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Sang

2. Ông Phan Văn Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Thanh Viễn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2026/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2026/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2026, đối với bị cáo:

Nguyễn Đan A, sinh ngày 06/01/2004; Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, tỉnh Hưng Yên; Căn cước: 034204011092; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Phạm Thị L .

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 12/03/2026 đến ngày 15/03/2026 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Đ - Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh H. (có mặt)

- Người chứng kiến:

+ Ông Phạm Hữu T, sinh năm 1959. (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn N, xã B, tỉnh Hưng Yên.

+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959. (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn N, xã B, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 11/3/2026, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Đan A đi bộ từ nhà ở thôn L, xã Q, tỉnh Hưng Yên ra đường đi nhờ xe mô tô của một người không biết tên, tuổi, địa chỉ đến khu vực ngã ba Đ, xã Đ, tỉnh Hưng Yên thì xuống xe đi bộ tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, Anh gặp và mua được của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ, đang đứng ở mé Quốc lộ A được 02 túi ma túy với giá 500.000 đồng. A cầm ma túy ở bàn tay phải rồi đi nhờ xe mô tô của một người đi đường. Đến khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày đến trục đường B, thôn N, xã B thì xuống xe, đi bộ đến gần khu vực nghĩa trang C1, thôn N, xã B thì bị tổ công tác Công an xã B, tỉnh Hưng Yên yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Phạm Hữu T và bà Nguyễn Thị L, A đã tự nguyện giao nộp 02 túi nilon màu trắng trong suốt, kích thước khoảng (1x1,5)cm, bên trong mỗi túi chứa các hạt tinh thể màu trắng trong suốt đang cầm ở tay phải cho tổ công tác và khai nhận đó là ma túy đá của A mua về sử dụng cho bản thân, kiểm tra người A nhưng không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đưa A cùng vật chứng và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an xã B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý, niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đan A tại thôn L, xã Q, tỉnh Hưng Yên nhưng không thu giữ gì.

Bản kết luận giám định số 664/KL-KTHS ngày 14/03/2026 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1695 gam.

Bản Cáo trạng số 62/CT-VKS-KV7 ngày 05 tháng 5 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hưng Yên truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 7 – Hưng Yên để xét xử đối với Nguyễn Đan A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đan A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hưng Yên giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đan A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đan A mức án từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì bên ngoài ghi số 664/KL-KTHS.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hưng Yên đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo Nguyễn Đan A nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đan A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 20 phút, ngày 11/3/2026, tại khu vực gần nghĩa trang C1, thôn N, xã B, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Đan A có hành vi tàng trữ trái phép 02 túi ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1695 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C, M1, A1, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

Hành vi của Nguyễn Đan A là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, ma túy là loại chất gây nghiện gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, là nguyên nhân phá hoại hạnh phúc của bao gia đình và còn phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hưng Yên truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đan A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có ông bà nội được Nhà nước tặng H, Huy chương kháng chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.

Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có công việc ổn định, thu nhập thấp, không có tài sản gì, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Đan A còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Nguyễn Đan A khai mua ma túy của 01 người đàn ông khoảng 50 tuổi không biết tên, địa chỉ tại khu vực ngã ba Đ thuộc địa phận xã Đ, tỉnh Hưng Yên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đan A phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đan A 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 12/03/2026).

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1169 gam ma túy, loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói quản lý của Nguyễn Đan A trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định, bên ngoài ghi số 664/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh H.

(Vật chứng đã được chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Hưng Yên theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/5/2026).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đan A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ