- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Quốc Th cùng đồng phạm - tổ chứ sử dụng ma túy - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2026/HS-ST Ngày: 23 - 7 - 2026 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TỈNH ĐỒNG THÁP
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nguyễn Hữu Phúc.
2. Ông: Nguyễn Hữu Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Thúy - Cán bộ Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Tiền - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 23 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2026/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2026/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2026, đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Hồ Quốc Thắng, sinh ngày 12/12/1998, tại tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp); Số căn cước công dân: 082098012069; Hộ khẩu thường trú: ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú hiện nay: ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông: Hồ Văn Tra, sinh năm 1967 và bà: Nguyễn Thị Lá, sinh năm 1966; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Từ nhỏ sinh sống cùng gia đình tại ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp, học đến lớp 8 thì nghỉ học. Ngày 09/8/2019 bị Công an huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 213/QĐ-XPHC, về hành vi cố ý gây thương tích với số tiền 2.500.000 đồng, ngày 01/11/2019 đã chấp hành xong. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 06/01/2026, cho đến nay tại Phân trại tạm giam Cai Lậy thuộc Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Đồng Tháp.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
2/ Họ và tên: Nguyễn Thanh Điền, sinh ngày 16/7/1996, tại tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp); Số căn cước công dân: 082096013019; Hộ khẩu thường trú: ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú hiện nay: ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm Thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Văn Tám, sinh năm 1965 và bà: Phạm Thị Nhĩ, sinh năm 1967 (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần. Ngày 09/5/2025 bị Công an thị trấn Bình Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPHC, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo chưa chấp hành; Về nhân thân: Từ nhỏ sinh sống cùng gia đình tại ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp, học đến lớp 7 thì nghỉ học. Ngày 05/5/2025 bị Ủy ban nhân dân thị trấn Bình Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 12/QĐ-UBND, với thời hạn 01 năm, kể từ ngày 05/5/2025. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 06/01/2026 cho đến nay tại Phân trại tạm giam Cai Lậy thuộc Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Đồng Tháp.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
3/ Họ và tên: Phạm Minh Luân (tên gọi khác Tý), sinh ngày 16/8/1995, tại tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp); Số căn cước công dân: 082095015111; Hộ khẩu thường trú: ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú hiện nay: ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm Thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông: Phạm Văn Thanh Em, sinh năm 1971 và bà: Lê Thị Nương, sinh năm 1969; Vợ: Lê Kim Ngân, sinh năm 1991 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Từ nhỏ sinh sống cùng gia đình tại ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp, học đến lớp 8 thì nghỉ học. Ngày 14/7/2011 bị Uỷ ban nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định số 4111/QĐ-UB về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 18 tháng về hành vi trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 30/11/2012. Ngày 19/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Tháp), xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự, theo Bản án số 82/2013/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 03/12/2014. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 06/01/2026 cho đến nay tại Phân trại tạm giam Cai Lậy thuộc Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Đồng Tháp.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
4/ Họ và tên: Võ Tuấn Khanh, sinh ngày 02/6/1990, tại tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp); Số căn cước công dân: 082090020892; Hộ khẩu thường trú: ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú hiện nay: ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm Thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông: Võ Văn Nhành, sinh năm 1955 và bà: Nguyễn Thị Diệp, sinh năm 1955; Vợ: Trần Thị Thảo Ly, sinh năm 1988 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Từ nhỏ sinh sống cùng gia đình tại ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp, học đến lớp 8 thì nghỉ học. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 06/01/2026 cho đến nay tại Phân trại tạm giam Cai Lậy thuộc Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Đồng Tháp.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Phạm Văn Quyển, sinh năm 1991; (có mặt)
Nơi cư trú: Ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp.
* Người làm chứng:
1/ Anh Nguyễn Văn Tuấn, sinh năm 1986; (có mặt)
Nơi cư trú: Ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp.
2/ Anh Lê Văn Dừa, sinh năm 1967; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Võ Tuấn Khanh, Nguyễn Thanh Điền, Hồ Quốc Thắng và Phạm Minh Luân là bạn bè với nhau và đều nghiện ma túy.
Khoảng 20 giờ ngày 31/12/2025, Nguyễn Thanh Điền đến nhà Võ Tuấn Khanh tại ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp chơi và cùng uống rượu bia, đến 22 giờ cùng ngày thì có Hồ Quốc Thắng đến nhà Khanh chơi. Lúc này, Thắng là người khởi xướng rủ Điền và Khanh góp tiền để mua ma túy về cùng nhau sử dụng thì Điền và Khanh đồng ý, nên thỏa thuận thống nhất cùng góp tiền mua ma túy về cùng nhau sử dụng, tất cả đồng ý, nên Điền góp 100.000 đồng, Khanh góp 140.000 đồng, Thắng góp 60.000 đồng và Thắng là người đi mua ma túy. Sau đó, Thắng đi bộ đến chợ Bình Phú thuộc ấp Bình Tịnh, xã Bình Phú gặp người tên Bi (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) mua ma túy với giá 300.000 đồng, được cất trong 01 gói nylon bên trong có chứa ma tuý, nhận ma túy Thắng đem về nhà của Khanh, sau đó Thắng đổ ma túy vào nỏ thủy tinh có sẵn tại nhà của Khanh, Thắng đốt lên sử dụng, đến lượt Khanh và Điền cùng sử dụng, khi sử dụng ma túy được hai lượt thì Điền làm vỡ cái phần đầu của nỏ thủy tinh, nên cả ba không sử dụng nữa, Thắng đi về nhà, Điền ngủ lại nhà của Khanh. Bộ dụng cụ sử dụng ma túy có nỏ thủy tinh bị vỡ phần đầu phễu, Khanh đem cất trên đầu tủ trong nhà của Khanh.
Đến khoảng 13 giờ ngày 01/01/2026, Phạm Minh Luân rủ Hồ Quốc Thắng đến nhà của Võ Tuấn Khanh để sử dụng ma túy, Thắng đồng ý, Luân điều khiển xe mô tô biển số 63H8-0870 chở Thắng đến nhà Khanh. Khi đến trước nhà Khanh thì Luân đưa cho Thắng 200.000 đồng để đi mua ma túy, Thắng đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 63H8-0870 của Luân đi mua ma túy, Luân gõ cửa nhà Khanh thì Nguyễn Thanh Điền mở cửa cho Luân vào, Khanh không có ở nhà. Lúc này, Luân nói cho Điền nghe là đã đưa tiền cho Thắng đi mua ma túy về sử dụng. Còn Thắng điều khiển xe mô tô đi đến chợ Bình Phú gặp người tên Bi (không xác định họ tên, địa chỉ cụ thể) để mua ma túy với giá 200.000 đồng là 01 gói nylon chứa ma túy và được cho thêm 01 dụng cụ sử dụng ma túy. Khi về nhà Khanh, thì Thắng lấy ma túy đổ vào nỏ thủy tinh, đốt lên Thắng sử dụng ma túy trước rồi đưa cho Luân và Điền cùng sử dụng, mỗi người sử dụng được 02 lượt thì nghỉ, thì Thắng ra về, Điền và Luân ở lại nhà Khanh chơi. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Khanh đi làm về, Khanh thấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên lấy sử dụng phần ma túy còn lại rồi đem cất giấu bộ dụng cụ sử dụng ma túy trên góc tủ.
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 01/01/2026, lực lượng Công an xã Bình Phú đến kiểm tra hành chính tại nhà Võ Tuấn Khanh. Qua kiểm tra đã thu giữ 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
Vật chứng thu giữ, gồm:
- 01 nỏ thuỷ tinh trong lòng ống và phễu có dính chất màu nâu đen, nghi là ma túy, được niêm phong trong bì thư (ký hiệu M1).
- 01 dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 ly thủy tinh bên dưới, trên có gắn 01 đoạn cổ chai bằng nhựa trong suốt (ly thủy tinh trong suốt và đoạn cổ chai bằng nhựa trong suốt được nối với nhau bằng băng keo màu đen), trên cổ chai có nắp vặn bằng nhựa màu đỏ, trên nắp nhựa màu đỏ có 02 lỗ, trong đó 01 lỗ có gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng và 01 nỏ thuỷ tinh đã bị vỡ phần phễu không chứa gì, được niêm phong trong túi niêm phong (ký hiệu M2).
- 01 ly thủy tinh bên dưới, trên là cổ chai nhựa có nắp đậy màu đỏ nối với nhau bằng băng keo đen, nắp nhựa khoét 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng (ký hiệu M3).
Ngày 02/01/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét nơi ở của bị cáo Võ Tuấn Khanh tại ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp, kết quả: không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan.
Kết quả xét nghiệm tình trạng ma túy của Phạm Minh Luân, Hồ Quốc Thắng, Võ Tuấn Khanh và Nguyễn Thanh Điền vào ngày 02/01/2026, kết quả cả bốn bị cáo đều dương tính với chất ma túy.
Kết luận giám định số: 13/KL-KTHS ngày 04 tháng 01 năm 2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt được uốn cong dạng phễu, bên trong phễu có chất bám dính màu nâu đen được niêm phong (ký hiệu M1) là Mẫu chất bám dính màu nâu đen gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0054 gam, loại Methamphetamine.
Kết luận giám định số: 17/KL-KTHS ngày 05 tháng 01 năm 2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, đối với 01 ly thủy tinh trong suốt có gắn 01 đoạn cổ chai bằng nhựa trong suốt (ly thủy tinh trong suốt và đoạn cổ chai bằng nhựa trong suốt được nối với nhau bằng băng keo màu đen), trên cổ chai có nắp vặn bằng nhựa màu đỏ, trên nắp nhựa màu đỏ có 02) lỗ: trong đó 01 lỗ có gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng, bên trong không chứa gì và 01 lỗ có gắn 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt được uốn cong dạng phễu (phễu đã bị bể một phần), bên trong phễu còn lại và thành ống thủy tinh có chất bám dính màu nâu đen, trong túi niêm phong (ký hiệu M2), kết luận là: Mẫu chất bám dính màu nâu đen gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0026 gam, loại Methamphetamine.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn Quyển có ý kiến trình bày như sau: Anh Quyển là anh ruột của bị cáo Luân. Vào ngày 01/01/2026 Luân mượn xe mô tô biển số 63H8-087 của anh Quyển nói là đi mua đồ; còn việc Luân lấy xe đi mua ma túy về sử dụng thì anh Quyển hoàn toàn không biết. Hiện chiếc xe trên anh Quyển đã nhận lại nên không yêu cầu gì.
Tại phiên tòa người làm chứng anh Nguyễn Văn Tuấn có ý kiến trình bày như sau: Anh Tuấn là Lực lượng bảo vệ an ninh trật tự cơ sở, nên khi Công an xã Bình phú đến kiểm tra hành chính tại nhà Võ Tuấn Khanh thì anh Tuấn có chứng kiến và ký tên vào biên bản.
Bản cáo trạng số 68/CT-VKSDTP-KV ngày 17 tháng 6 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị truy tố bị cáo Hồ Quốc Thắng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị các truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Điền, Phạm Minh Luân, Võ Tuấn Khanh về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Hồ Quốc Thắng, Nguyễn Thanh Điền, Phạm Minh Luân, Võ Tuấn Khanh đã thừa nhận hành vi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Hồ Quốc Thắng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị các truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Điền, Phạm Minh Luân, Võ Tuấn Khanh về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 17 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hồ Quốc Thắng từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 17 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Điền từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Xử phạt bị cáo Phạm Minh Luân từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 17 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Tuấn Khanh từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy đối với 01(một) bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số 13 ghi ngày 04/01/2026 (chứa tang vật là 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt được uốn cong dạng phiễu, bên trong phiễu và thành ống thủy tinh không chứa gì); 01(một) bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số 17 ghi ngày 05/01/2026 (chứa tang vật là 01 ly thủy tinh trong suốt có gắn 01 đoạn cổ chai bằng nhựa trong suốt (ly thủy tinh trong suốt và đoạn cổ chai bằng nhựa trong suốt được nối với nhau bằng băng keo màu đen), trên cổ chai có nắp vặn bằng nhựa màu đỏ, trên nắp nhựa màu đỏ có 02 lỗ: 01 lỗ có gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng bên trong không chứa gì; 01 lỗ có gắn 01 đoạn thủy tinh trong suốt được uốn cong dạng phễu (phễu đã bị bể một phần), bên trong phần phễu còn lại và thành ống thủy tinh không chứa gì); 01 (một) ly thủy tinh bên dưới, trên là cổ chai nhựa có nắp đậy màu đỏ nối với nhau bằng băng keo đen, nắp nhựa khoét 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Việc vắng mặt người làm chứng anh Lê Văn Dừa. Xét thấy, trong hồ sơ đã có lời khai của người làm chứng anh Dừa, nên việc vắng mặt người làm chứng anh Dừa, không làm ảnh hưởng đến việc xét xử đối với các bị cáo Thắng, Điền, Luân và Khanh. Căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt phía người làm chứng anh Lê Văn Dừa.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hồ Quốc Thắng, Nguyễn Thanh Điền, Phạm Minh Luân, Võ Tuấn Khanh đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 31/12/2025, tại nhà của Võ Tuấn Khanh thuộc ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp, thì Thắng là người khởi xướng rủ Điền và Khanh góp tiền để mua ma túy về cùng nhau sử dụng thì Điền và Khanh đồng ý, nên thỏa thuận thống nhất cùng góp tiền mua ma túy về cùng nhau sử dụng, trong đó Khanh góp 140.000 đồng, Điền góp 100.000 đồng và Thắng góp 60.000 đồng, tổng cộng 300.000 đồng, Thắng trực tiếp đi mua ma túy và đổ ma túy vào nỏ để cả ba cùng sử dụng, qua giám định là ma túy có khối lượng 0,0026 gam, loại Methamphetamine. Khoảng 14 giờ ngày 01/01/2026, Phạm Minh Luân rủ Hồ Quốc Thắng đến nhà Võ Tuấn Khanh thuộc ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp để sử dụng ma túy, Thắng đồng ý, Luân đưa tiền 200.000 đồng cho Thắng đi mua ma túy đem về để Luân, Thắng và Điền cùng nhau sử dụng tại nhà Khanh, đến khoảng 19 giờ cùng ngày Khanh về nhà thấy có ma túy nên sử dụng, qua giám định là ma túy có khối lượng 0,0054 gam, loại Methamphetamine. Xét lời thừa nhận tội của các bị cáo Thắng, Điền, Luân và Khanh là phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường; bản ảnh hiện trường; Kết luận giám định số: 13/KL-KTHS ngày 04 tháng 01 năm 2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp; Kết luận giám định số: 17/KL-KTHS ngày 05 tháng 01 năm 2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Hồ Quốc Thắng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Thanh Điền, Phạm Minh Luân, Võ Tuấn Khanh phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Đúng với kết luận luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp giữ quyền công tố tại phiên tòa hôm nay.
Căn cứ vào vai trò, hành vi, tính chất, mức độ, hậu qủa của việc thực hiện tội phạm. Xét thấy, các bị cáo có ý thức chuẩn bị trước cho việc thực hiện tội phạm. Tuy các bị cáo cố ý cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự câu kết chặt chẽ, do đó xác định đây là đồng phạm giản đơn. Cụ thể, vai trò của từng bị cáo như sau:
Đối với các bị cáo Thắng, Điền, Khanh vào ngày 31/12/2025, tại nhà của Võ Tuấn Khanh thuộc ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo Thắng là người khởi xướng rủ Điền và Khanh góp tiền để mua ma túy về cùng nhau sử dụng thì Điền và Khanh đồng ý, nên thỏa thuận thống nhất cùng góp tiền mua ma túy về cùng nhau sử dụng, trong đó Khanh góp 140.000 đồng, Điền góp 100.000 đồng và Thắng góp 60.000 đồng, tổng cộng 300.000 đồng, bị cáo Thắng là người trực tiếp đi mua ma túy và đổ ma túy vào nỏ để cả ba cùng sử dụng và vào ngày 01/01/2026, bị cáo Phạm Minh Luân rủ bị cáo Hồ Quốc Thắng đến nhà bị cáo Võ Tuấn Khanh thuộc ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp để sử dụng ma túy, Thắng đồng ý, Luân đưa tiền 200.000 đồng cho Thắng đi mua ma túy đem về để Luân, Thắng và Điền cùng nhau sử dụng tại nhà Khanh, đến khoảng 19 giờ cùng ngày Khanh về nhà thấy có ma túy nên sử dụng. Cho nên, cần xử phạt các bị cáo Thắng, Điền, Luân và Khanh với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm giáo dục cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Xét về ý thức chủ quan của các bị cáo nhận thức được rằng, ma túy là chất gây nghiện, người sử dụng ma túy rất khó từ bỏ, nếu sử dụng lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người nghiện, làm mất dần khả năng lao động, học tập và làm việc, nó là nguồn gốc làm phát sinh các tệ nạn xã hội, các loại tội phạm khác, làm suy đồi giá trị đạo đức truyền thống, làm tha hóa lối sống thế hệ thanh thiếu niên, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội, nó còn là tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS. Vì thế, pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán... Thế nhưng, các bị cáo Thắng, Điền, Luân và Khanh đã bất chấp các quy định của pháp luật là đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra tội phạm. Do vậy, cần phải xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm để giáo dục, cải tạo bị cáo, răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Thắng, Điền, Luân và Khanh thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Thắng sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, bị cáo Khanh có ông Ngoại là người có công với cách mạng. Do đó, cần cho bị cáo Thắng và bị cáo Khanh hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Về nhân thân: Bị cáo Thắng hiện nay không có tiền án, tiền sự nhưng trước đây có 01 tiền sự đã được xóa; bị cáo Điền không có tiền án, có 01 tiền sự; bị cáo Luân hiện nay không có tiền án, tiền sự nhưng trước đây có 01 tiền án và 01 tiền sự đã được xóa; bị cáo Khanh từ trước đến nay không có tiền án, tiền sự; về trình độ học vấn bị cáo Thắng, Luân và Khanh 8/12, bị cáo Điền 7/12 nên nhận thức về pháp luật của các bị cáo có phần hạn chế. Do vậy, cần xem xét chiếu cố phần nào mức hình phạt đối với các bị cáo, nhưng cũng phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài để nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt giúp ích cho xã hội sau này.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Thắng, Điền, Luân và Khanh nghiện ma túy, không có việc làm ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Đối với người tên Bi có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Hồ Quốc Thắng, qua xác minh Cơ quan cảnh sát điều tra không xác định được họ, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ xử lý; nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết.
Đối với Phạm Văn Quyền, sinh năm 1991, nơi cư trú ấp Bình Long, xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp, là chủ sở hữu xe mô tô biển số 63H8-0870, Quyền không biết việc Phạm Minh Luân mượn xe mô tô để đưa cho Hồ Quốc Thắng, làm phương tiện đi mua ma túy nên không có căn cứ xử lý; nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01(một) bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số 13 ghi ngày 04/01/2026 (chứa tang vật là 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt được uốn cong dạng phiễu, bên trong phiễu và thành ống thủy tinh không chứa gì); 01(một) bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số 17 ghi ngày 05/01/2026 (chứa tang vật là 01 ly thủy tinh trong suốt có gắn 01 đoạn cổ chai bằng nhựa trong suốt (ly thủy tinh trong suốt và đoạn cổ chai bằng nhựa trong suốt được nối với nhau bằng băng keo màu đen), trên cổ chai có nắp vặn bằng nhựa màu đỏ, trên nắp nhựa màu đỏ có 02 lỗ: 01 lỗ có gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng bên trong không chứa gì; 01 lỗ có gắn 01 đoạn thủy tinh trong suốt được uốn cong dạng phễu (phễu đã bị bể một phần), bên trong phần phễu còn lại và thành ống thủy tinh không chứa gì); 01 (một) ly thủy tinh bên dưới, trên là cổ chai nhựa có nắp đậy màu đỏ nối với nhau bằng băng keo đen, nắp nhựa khoét 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng. Xét thấy, các vật chứng nói trên các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội hiện không có giá trị và không sử dụng được nên cần phải tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Hồ Quốc Thắng, Nguyễn Thanh Điền, Phạm Minh Luân, Võ Tuấn Khanh mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Xét ý kiến và đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ và phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận một phần đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự:
Tuyên bố bị cáo Hồ Quốc Thắng, Nguyễn Thanh Điền, Phạm Minh Luân, Võ Tuấn Khanh phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự.
Xử: Phạt bị cáo Hồ Quốc Thắng 09 (chín) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Thắng bị bắt tạm giam là ngày 06/01/2026.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự:
Xử: Phạt bị cáo Phạm Minh Luân 08 (tám) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Luân bị bắt tạm giam là ngày 06/01/2026.
Xử: Phạt bị cáo Nguyễn Thanh Điền 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Điền bị bắt tạm giam là ngày 06/01/2026.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự:
Xử: Phạt bị cáo Võ Tuấn Khanh 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Khanh bị bắt tạm giam là ngày 06/01/2026.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy đối với 01(một) bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số 13 ghi ngày 04/01/2026 (chứa tang vật là 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt được uốn cong dạng phiễu, bên trong phiễu và thành ống thủy tinh không chứa gì); 01(một) bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số 17 ghi ngày 05/01/2026 (chứa tang vật là 01 ly thủy tinh trong suốt có gắn 01 đoạn cổ chai bằng nhựa trong suốt (ly thủy tinh trong suốt và đoạn cổ chai bằng nhựa trong suốt được nối với nhau bằng băng keo màu đen), trên cổ chai có nắp vặn bằng nhựa màu đỏ, trên nắp nhựa màu đỏ có 02 lỗ: 01 lỗ có gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng bên trong không chứa gì; 01 lỗ có gắn 01 đoạn thủy tinh trong suốt được uốn cong dạng phễu (phễu đã bị bể một phần), bên trong phần phễu còn lại và thành ống thủy tinh không chứa gì); 01 (một) ly thủy tinh bên dưới, trên là cổ chai nhựa có nắp đậy màu đỏ nối với nhau bằng băng keo đen, nắp nhựa khoét 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng.
(Vật chứng trên được Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp lập ngày 18/6/2026)
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí.
Bị cáo Hồ Quốc Thắng, Nguyễn Thanh Điền, Phạm Minh Luân, Võ Tuấn Khanh mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng các điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 36 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Đồng Tháp; - VKSND Khu vực 4-Đồng Tháp; - Cơ quan Cảnh sát điều tra CA tỉnh Đồng Tháp; - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thanh Sơn |