- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kh phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2025/HS-ST Ngày: 04/04/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Huỳnh Tất Ngọc Trân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Trần Lệ Nga
2/ Bà Nguyễn Quốc Tiến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Bắc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Kh, sinh ngày 19/01/2003, nơi đăng ký thường trú: Số J13A đường Ngọc Hân Công Chúa, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, nghề nghiệp: buôn bán, trình độ học vấn: 07/12; giới tính: nam, Quốc tịch Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không. Cha: Đặng Thanh Trung, sinh năm: 1983; mẹ: Nguyễn Thị Mỹ Linh, sinh năm: 1983, anh chị em ruột có 03 người lớn nhất sinh năm 2011 và nhỏ nhất sinh năm 2023.
Bị cáo bị Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Truy tố về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
Theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Ngày 23/9/2024, bị bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị tạm giữ. Ngày 02/10/2024, bị khởi tố chuyển tạm giam theo Lệnh số 1069. Đến ngày 18/12/2024, được Bảo Lĩnh theo quyết định về việc Bảo Lĩnh số 01 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá. Hiện, bị can đang tại ngoại ở số J13A, đường Ngọc Hân Công Chúa, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Họ và tên: P, sinh ngày 21/3/2002, nơi đăng ký thường trú: ấp Sơn Tiến, khu phố Sơn Tiến, thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, nghề nghiệp: làm thuê, trình độ học vấn: 06/12; giới tính: nam, Quốc tịch Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không. Cha: Ngô Văn Quân, (đã chết); mẹ: Đỗ Thị Minh Hiếu, sinh năm: 1967, anh chị em ruột có 01 người sinh năm 2000.
Bị cáo bị Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Truy tố về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
Theo điểm 0 khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tiền án, tiền sự: không có.
Ngày 23/9/2024, bị bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị tạm giữ. Ngày 02/10/2024, bị khởi tố chuyển tạm giam theo Lệnh số 1068. Hiện, bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Rạch Giá.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
1. Tô Kiến H- sinh năm: 2002.(có mặt)
Cư trú: Số 52/112 Nguyễn Thái Học, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
2. Lê Minh T- sinh năm: 1995.(vắng mặt)
Cư trú: 18/11 Huỳnh Mẫn Đạt, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
3. Nguyễn Hữu T2- sinh năm: 2001.(vắng mặt)
Cư trú: Số 487/36D Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
4. Trần Kiều A, sinh năm: 2002.(vắng mặt)
Cư trú: Số 487/36D Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
5. Nguyễn Hải Đ, sinh năm: 2003.(vắng mặt)
Cư trú: Số 39/21 Ngô Thì Sỹ, phường An Bình, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
6. Tô Nhựt A2, sinh năm: 1997.(vắng mặt)
Cư trú: Số 866/4 Nguyễn Trung Trực, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
7. Tăng Ngọc Thùy D, sinh năm: 1997.(vắng mặt)
Cư trú: Số 34/4 Thủ Khoa Nghĩa, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
8. Lê Thị M, sinh năm : 1996.(vắng mặt)
Cư trú : Lô 1 căn C1 đường số 02 ấp Sua Đũa, xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
9. Trần Khánh V, sinh năm: 2003.(vắng mặt)
Cư trú: Số 44 Lương Nhữ Học, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
10. Lưu Khánh T3, sinh năm: 2004.(vắng mặt)
Cư trú: Số 8/14 Đinh Tiên Hoàng, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
* Vật chứng đưa ra xem xét tại phiên tòa: Không.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ 00 Pt, ngày 23/09/2024, tại phòng 6969, Nhà hàng Seapalace, số C17-51-52-53-54, đường Tôn Đức Thắng, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá; Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma tuý Công an thành phố Rạch Giá kết hợp Công an phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá bắt quả tang P, Kh về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thu trong túi quần phía trước bên phải của P đang mặc: 01 (một) bịch nylon màu đỏ có chữ Ferrari, P khai là ma túy loại “nước vui”, (bút lục số: 28-30, 85).
Tại Cơ quan điều tra, Kh, P khai nhận: Kh bắt đầu sử dụng ma túy từ đầu năm 2022, P bắt đầu sử dụng ma túy vào khoảng đầu năm 2024. Nguồn ma túy cả hai sử dụng do một số bạn bè ngoài xã hội không rõ nhân thân cho sử dụng cùng khi đi chơi tại quán Bar Paradies, đường Tôn Đức Thắng, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá. Vào ngày 13/9/2024, khi đi chơi tại địa điểm nói trên, Kh được người bạn tên Phong (không rõ nhân thân) cho 01 bịch “nước vui” màu đỏ, nhãn hiệu Ferrari để sử dụng. Sau khi nhận được ma túy, Kh đưa cho P cất giữ với mục đích khi có điều kiện thì cả hai cùng nhau sử dụng.
Vào khoảng 19 giờ, ngày 23/9/2024, Kh đến nhà chở P đi dự tiệc sinh nhật của Nguyễn Hữu Tình tại Nhà hàng Seapalace. Khi đi, Kh kêu P mang theo bịch ma túy nói trên để sử dụng, P đồng ý và lấy bịch ma túy để vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi cùng Kh đi đến Nhà hàng Seapalace. Khi đến nơi, Kh và P nhậu tại phòng 6969 cùng với Tô Kiến Hạo, Lê Minh Tiến, Trần Khánh Vinh, Lưu Khánh Trang, Lê Thị Mai, Tăng Ngọc Thùy Dương, Tô Nhật Anh, Nguyễn Hải Đăng, Nguyễn Hữu Tình, Trần Kiều Anh, Nguyễn Tú Anh, Trần Mỹ Phượng. Tất cả nhậu đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang thu giữ của P bịch ma túy nói trên, (bút lục số: 70-77, 84-96).
Ngày 02/10/2024, Kh, P bị khởi tố, tạm giam để phục vụ điều tra. Trong quá trình điều tra các bị can có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Kh và P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, người chứng kiến thống nhất với diễn biến sự việc như đã nêu trên.
*Các đồ vật, tài liệu đã thu giữ trong vụ án:
- 01 (Một) bịch nylon màu đỏ có chữ Ferrari, được niêm phong theo quy định.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số Imei: 354132413568299, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số Imei: 359406087122392, đã qua sử dụng, (bút lục số: 29-31).
* Tại Kết luận giám định số: 1036/KL-KTTIS, ngày 01/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận: Chất màu cam chứa trong 01 (một) bịch nilon màu đỏ, có chữ Ferrari được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMA, Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 7,5293 gam.
MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục IB, STT 11, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 40, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ, (bút lục số: 65-67).
Tại Công văn số 122/PC09, ngày 06/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang về định lượng chất ma túy có nội dung như sau:
Qua nghiên cứu Bản kết luận số 1189/KL-KTHS, ngày 04/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang trả lời như sau: Căn cứ Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP, ngày 14/11/2015, nhóm mẫu trên không thuộc nhóm phải xác định hàm lượng từng loại ma túy Ketamine, MDMA theo yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, (bút lục số: 69).
Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với các kết luận giám định nêu trên.
* Tại Bản cáo trạng số 45/CT-VKSTPRG ngày 08 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố các bị cáo Kh và P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử về tội danh và hình phạt áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đặng Vỹ Khanh mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử về tội danh và hình phạt áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo P mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng là vật cấm tàng trữ lưu hành và không còn giá trị sử dụng, gồm: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số 1052/2024, ngày 02/10/2024 có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Toàn, cán bộ niêm phong Huỳnh Văn Tuấn và hình dấu mộc đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Vật chứng trên đã được nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1070, ngày 02/10/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, (bút lục số: 102-104).
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu các tài sản sau:
- Trả lại cho P: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số Imei: 359406087122392, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho Kh: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số Imei: 354132413568299, đã qua sử dụng.
Các vật chứng trên được trao trả theo Quyết định xử lý vật chứng số 4095, ngày 25/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, (bút lục số: 107-109).
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 29/QĐ-VKSRG, ngày 08/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá (bút lục 147).
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.
*Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo Kh và P xin được giảm nhẹ hình phạt tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo Kh và P và những chứng cứ xác định bị cáo có tội:
Vào lúc 22 giờ 00 Pt, ngày 23/09/2024, tại phòng 6969, Nhà hàng Seapalace, số C17-51-52-53-54, đường Tôn Đức Thắng, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá P, Kh bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma tuý Công an thành phố Rạch Giá kết hợp Công an phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thu trong túi quần phía trước bên phải của P 01 (một) bịch nylon ma túy. Qua giám định là ma túy, loại MDMA, Ketamine có khối lượng là 7,5293 gam.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Kh và P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Xét về nhân thân, hành vi, động cơ, tính chất, mức độ và hậu quả trong việc phạm tội của các bị cáo: Xét thấy các bị cáo Kh và P là người có nhân thân tốt, các bị cáo chưa từng có tiền án, tiền sự. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất về ma túy; các bị cáo nhận thức rõ tác hại của việc sử dụng ma túy là gây tổn hại đến thể chất, tinh thần của con người, nó cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an trong khu vực, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý. Tại phiên toà hôm nay các bị cáo thừa nhận tự thực hiện hành vi phạm tội, không có ai xúi giục, rủ rê bị cáo, mục đích tàng trữ ma tuý của bị cáo là nhằm mục đích sử dụng cá nhân. Nhận thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, tuy nhiên vụ án này có tính chất đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn do đó sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo bằng mức án của khung hình phạt, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm tuyên truyền, phòng ngừa chung. Theo đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đặng Vũ Kh và P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đặng Vũ Kh và P trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá tại phiên tòa về việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng là vật cấm tàng trữ lưu hành và không còn giá trị sử dụng, gồm: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số 1052/2024, ngày 02/10/2024 có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Toàn, cán bộ niêm phong Huỳnh Văn Tuấn và hình dấu mộc đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Vật chứng trên đã được nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1070, ngày 02/10/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, (bút lục số: 102-104).
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu các tài sản sau:
- Trả lại cho P: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số Imei: 359406087122392, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho Kh: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số Imei: 354132413568299, đã qua sử dụng.
Các vật chứng trên được trao trả theo Quyết định xử lý vật chứng số 4095, ngày 25/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, (bút lục số: 107-109).
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 29/QĐ-VKSRG, ngày 08/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá (bút lục 147).
Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
Về các vấn đề khác:
Đối với những người chưa rõ nhân thân, trong đó có người tên Phong có hành vi cung cấp ma túy cho các bị can cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Tô Kiến Hạo, Lê Minh Tiến, Trần Khánh Vinh, Lưu Khánh Trang, Lê Thị Mai, Tăng Ngọc Thùy Dương, Tô Nhật Anh, Nguyễn Hải Đăng, Nguyễn Hữu Tình, Trần Kiều Anh, Nguyễn Tú Anh, Trần Mỹ Phượng, không biết việc các bị can tàng trữ trái phép chất ma túy nên không xem xét xử lý.
Riêng đối với Trần Mỹ Phượng, quá trình kiểm tra phát hiện Phượng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can xử lý trong vụ án khác..
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm d mục 1.2 phần II Danh mục án phí của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Kh phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Kh mức án 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án (Khấu trừ thời gian tạm giam, tạm giữ của bị cáo Kh kể từ ngày 24/9/2024 đến ngày 18/12/2024).
Tuyên bố bị cáo P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo P mức án 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, tạm giữ ngày 24/9/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng là vật cấm tàng trữ lưu hành và không còn giá trị sử dụng, gồm: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số 1052/2024, ngày 02/10/2024 có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Toàn, cán bộ niêm phong Huỳnh Văn Tuấn và hình dấu mộc đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu các tài sản sau:
- Trả lại cho P: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số Imei: 359406087122392, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho Kh: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số Imei: 354132413568299, đã qua sử dụng.
Các vật chứng trên được trao trả theo Quyết định xử lý vật chứng số 4095, ngày 25/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá, (bút lục số: 107-109).
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 29/QĐ-VKSRG, ngày 08/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá (bút lục 147).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm d mục 1.2 phần II Danh mục án phí của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (04/04/2025).
- Nơi nhận:
| - Tòa án tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - VKSND TP. Rạch Giá; - Công an TP. Rạch Giá; - Chi cục THADS TP. Rạch Giá; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Tất Ngọc Trân |