vanban.org

Bản án 109/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 04/08/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Bị cáo Phạm Mạnh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tham ô tài sản, Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ - phạm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (điều 355 Lu…"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Bị cáo Phạm Mạnh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 353 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2025/HS-PT
Ngày: 04/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ

Các Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Kiều Hương, bà Hà Thị Thanh Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lang Văn Bảo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04/8/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2025/TLPT-HS ngày 22/5/2025 đối với bị cáo Phạm Mạnh H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 27/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

- Bị cáo có kháng cáo: Phạm Mạnh H, sinh năm 1974 tại huyện HN, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thị trấn HN, huyện HN (nay là xã HN), tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Giáo viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Mạnh H2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Hồ Thị H3 và 02 con (lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2007); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo Phạm Mạnh H bị bắt, tạm giam từ ngày 29/5/2024 đến ngày 25/9/2024 được tại ngoại. Có mặt.

Ngoài ra, còn có các bị cáo Trương Xuân C, Hoàng Đình T, nguyên đơn dân sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian giữ chức vụ Hiệu trưởng Trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Na Ngoi (Trường PTDTBT THCS N), Phạm Mạnh H giữ vai trò là chủ tài khoản, chịu trách nhiệm chính trong công tác công vụ quản lý tài chính ngân sách, các hoạt động thu chi của Nhà trường.

Trong quá trình thực hiện công tác tài chính tại trường PTDTBT THCS N giai đoạn từ năm 2020 - 2023, Phạm Mạnh H đã chỉ đạo Trương Xuân C kế toán nhà trường, Đinh Thị P (kế toán của nhà trường từ tháng 01/2020 đến tháng 08/2020) và Hoàng Đình T thủ quỹ tiến hành lập khống hồ sơ rút nguồn ngân sách, lạm thu tiền điện của học sinh, lợi dụng bớt tiền ăn bán trú của học sinh từ nguồn kinh phí Nhà nước hỗ trợ tiền ăn bán trú của học sinh sau đó nhập quỹ, vụ lợi cho các cá nhân và sử dụng một phần làm kinh phí hoạt động trái quy định gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, cụ thể như sau:

+ Hành vi “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

- Sai phạm trong lập hồ sơ khống thanh toán tiền hợp đồng thuê bảo vệ trường.

Căn cứ Nghị định 68/2000/NĐ-CP và Nghị định số 111/2022/NĐ-CP của Chính phủ thì các đơn vị trường học được hợp đồng thuê nhân viên bảo vệ nhà trường và thanh toán kinh phí chi thường xuyên (chi khác) từ nguồn ngân sách Nhà nước. Trên thực tế, trường PTDTBT THCS N không hợp đồng thuê bảo vệ trong cả năm học mà chỉ thuê bảo vệ trong thời gian 02 tháng nghỉ hè và 01 tháng nghỉ Tết. Tuy nhiên từ năm 2020 - 2023, hàng tháng Phạm Mạnh H đều chỉ đạo Đinh Thị P (kế toán của nhà trường từ tháng 01/2020 đến tháng 08/2020), Trương Xuân C (kế toán từ tháng 9/2020 đến 2023) lập khống hồ sơ hợp đồng thuê nhân viên bảo vệ trường sau đó hoàn tất thủ tục giao dịch qua kho bạc để Hoàng Đình T (thủ quỹ) rút tiền mặt từ Ngân hàng về nhập quỹ tiền mặt của nhà trường, trong đó số tiền cụ thể từ năm 2020 đến năm 2023 như sau:

- Năm 2020, Phạm Mạnh H chỉ đạo các kế toán thanh toán số tiền: 36.000.000đ (ba mươi sáu triệu đồng), tương đương 3.000.000đ/tháng. Trong đó, Đinh Thị P lập hồ sơ thanh toán số tiền 24.000.000đ (hai mươi bốn triệu đồng), Trương Xuân C lập hồ sơ thanh toán 12.000.000đ (mười hai triệu đồng), thực tế chi trả 6.000.000đ (sáu triệu đồng), còn lại chi sai mục đích: 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Đối với Đinh Thị P trong giai đoạn này do đang đi chữa bệnh (ung thư) nên không thường xuyên có mặt tại trường nên không biết trên thực tế Phạm Mạnh H không thuê bảo vệ, khi Phạm Mạnh H gửi thông tin tài liệu, chứng từ thuê bảo vệ thì Đinh Thị P đã làm thủ tục để rút tiền mà không biết đó là chứng từ không đúng thực tế.

- Năm 2021, Phạm Mạnh H chỉ đạo kế toán Trương Xuân C lập hồ sơ thanh toán số tiền 42.000.000đ (bốn mươi hai triệu đồng), tương đương 3.500.000đ/tháng. Trong đó thực tế chi trả số tiền 6.300.000đ (sáu triệu ba trăm nghìn đồng), số tiền còn lại chi sai mục đích là 35.700.000đ (ba mươi lăm triệu bảy trăm nghìn đồng).

- Năm 2022, Phạm Mạnh H chỉ đạo kế toán Trương Xuân C lập hồ sơ thanh toán số tiền: 48.000.000đ (bốn mươi tám triệu đồng), tương đương 4.000.000đ/tháng. Trong đó thực tế chi trả số tiền 5.200.000đ (năm triệu hai trăm nghìn đồng), số tiền còn lại chi sai mục đích là: 42.800.000đ (bốn mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng).

- Năm 2023, Phạm Mạnh H chỉ đạo kế toán Trương Xuân C lập hồ sơ thanh toán số tiền 49.800.000đ (bốn mươi chín triệu tám trăm nghìn đồng), tương đương 4.500.000đ/tháng, riêng tháng 1/2023 rút 4.800.000đ (bốn triệu tám trăm nghìn đồng) và không rút tiền tháng 12. Trong đó thực tế chi trả số tiền 6.500.000đ (sáu triệu năm trăm nghìn đồng), số tiền còn lại chi sai mục đích là 43.300.000đ (bốn mươi ba triệu ba trăm nghìn đồng).

Tổng cộng, trong giai đoạn từ năm 2020 - 2023 Phạm Mạnh H đã chỉ đạo Đinh Thị P, Trương Xuân C lập hồ sơ khống để rút ngân sách là 175.800.000đ (Một trăm bảy mươi lăm triệu tám trăm nghìn đồng), trong đó đã sử dụng chi đúng mục đích số tiền 24.000.000đ (Hai mươi bốn triệu đồng) cho nhân viên bảo vệ nhà trường trong thời gian 02 tháng hè và 01 tháng Tết của mỗi năm. Còn số tiền 151.800.000 đồng còn lại được rút về trái quy định, Phạm Mạnh H chỉ đạo Hoàng Đình T thực hiện các hoạt động chi không đúng mục đích của nguồn ngân sách được cấp theo quy định của Luật kế toán. Trong số tiền này, Phạm Mạnh H chỉ đạo sử dụng vụ lợi tập thể số tiền 130.539.000 đồng, còn Trương Xuân C vụ lợi cá nhân số tiền 21.261.000 đồng. Tổng số tiền ngân sách bị thất thoát trong hành vi này là 151.800.000đ (Một trăm năm mươi mốt triệu tám trăm nghìn đồng).

- Sai phạm trong việc lập hồ sơ khống rút tiền ngân sách chi cho hoạt động dạy thay giáo viên nghỉ sinh và thiếu biên chế.

Hàng năm, trường PTDTBT THCS N lập dự toán tiền lương cho cán bộ, công nhân viên nhà trường và thanh toán từ nguồn ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, từ năm học 2020 đến 2023, trường PTDTBT THCS N có một số cán bộ, giáo viên nghỉ chế độ thai sản hoặc chuyển công tác nên nhà trường thiếu biên chế so với định biên. Vì vậy, trong quỹ tiền lương của Nhà nước chi trả thông qua trường PTDTBT THCS N còn dư do không phải chi trả cho các nhân viên và giáo viên này. Theo quy định, nhà trường được phép hợp đồng giáo viên dạy thay, kinh phí do nguồn ngân sách Nhà nước đảm bảo chi trả từ nguồn tiền lương của giáo viên. Tuy nhiên, Phạm Mạnh H thông báo trước Hội đồng Nhà trường rằng không có các khoản tiền này mà nhà trường phải tự bố trí dạy thêm giờ hoặc bằng hình thức ghép lớp để đảm bảo chương trình học cho học sinh. Như vậy mặc dù không thuê giáo viên dạy thay nhưng Phạm Mạnh H với tư cách là hiệu trưởng đã chỉ đạo Đinh Thị P, Trương Xuân C lập khống hồ sơ thuê nhân viên thiết bị trường học và giáo viên dạy môn tiếng Anh để thủ quỹ rút ngân sách các năm 2020, 2021, 2022, cụ thể.

- Năm 2020, Đinh Thị P lập hồ sơ thanh toán số tiền: 3.814.400đ (ba triệu tám trăm mười bốn nghìn đồng) nhưng Đinh Thị P do đang đi chữa bệnh nên không biết thực tế Phạm Mạnh H không thuê giáo viên dạy thay, khi thấy đầy đủ hồ sơ, chứng từ nên đã lập hồ sơ thanh toán.

- Năm 2021, Trương Xuân C lập khống hồ sơ thanh toán số tiền: 29.204.000đ (hai mươi chín triệu hai trăm linh bốn nghìn đồng), chi thực tế số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng).

- Năm 2022, Trương Xuân C lập khống hồ sơ thanh toán số tiền 37.548.000đ (ba mươi bảy triệu năm trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

Tổng số tiền ngân sách chi hoạt động dạy thay giáo viên nghỉ sinh và thiếu biên chế lập khống là 70.566.400đ (bảy mươi triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn bốn trăm đồng), trong đó Phạm Mạnh H chỉ đạo chi số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) hỗ trợ dạy thêm giờ cho một số giáo viên dạy thay. Như vậy, số tiền còn lại là 66.566.400đ (sáu mươi sáu triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn bốn trăm đồng) được rút về trái quy định theo Luật kế toán, Phạm Mạnh H chỉ đạo Hoàng Đình T chi số tiền này vào các hoạt động trái mục đích ngân sách được cấp dẫn đến thất thoát.

- Sai phạm trong việc lạm thu tiền của học sinh (lý do là để chi trả tiền điện)

Theo quy định của Luật Ngân sách, các cơ quan Nhà nước (trong đó có các cơ sở giáo dục công lập) được sử dụng ngân sách để chi trả tiền điện. Qua theo dõi hồ sơ thanh quyết toán tại cơ quan tài chính thì hàng năm trường PTDTBT THCS N đều sử dụng ngân sách (mục chi thường xuyên) để thanh toán tiền điện. Theo quy định tại Thông tư 16/2028/TT-BGT ngày 03/8/2018 của Bộ Giáo dục - Đào tạo và các văn bản hướng dẫn của Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Nghệ An và của UBND huyện Kỳ Sơn thì việc thu tiền của học sinh phải được sự phê duyệt của Phòng Giáo dục và đào tạo huyện đồng thời nộp quản lý vào tài khoản tiền gửi để sử dụng. Tuy nhiên, việc thu tiền điện của học sinh của trường PTDTBT THCS N không được Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Kỳ Sơn phê duyệt (vì tiền điện được thanh toán từ nguồn ngân sách Nhà nước). Mặc dù đã được ngân sách chi trả tiền điện nhưng Phạm Mạnh H vẫn chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thu tiền điện của học sinh, sau đó nộp cho Hoàng Đình T. Phạm Mạnh H không chỉ đạo Hoàng Đình T nộp vào tài khoản tiền gửi để sử dụng mà đưa vào quỹ tiền mặt và sử dụng cho hoạt động của đơn vị trái quy định, cụ thể:

- Năm học 2020 - 2021: mức thu 50.000đ/em/năm học, tổng thu được số tiền 25.160.000đ (hai mươi lăm triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).

- Năm học 2021 - 2022: mức thu 50.000đ/em/năm học, tổng thu được số tiền 24.800.000đ (hai mươi tư triệu tám trăm nghìn đồng).

- Năm học 2022 - 2023: mức thu 80.000đ/em/năm học, tổng thu được số tiền 37.960.000đ (ba mươi bảy triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng).

Tổng số tiền điện thu của học sinh trong các năm học 2020 - 2021, 2021 - 2022 và 2022 - 2023 là: 87.920.000đ (tám mươi bảy triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng), hành vi đó đã gây thiệt hại đến cá nhân các học sinh của nhà trường.

- Sai phạm trong việc sử dụng tiền ăn bán trú của học sinh:

Hàng năm, căn cứ Nghị định 116/2016/NĐ-CP ngày 18/07/2016 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn, trường PTDTBT THCS N tiếp nhận hồ sơ, thẩm định và lập danh sách học sinh bán trú trình Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Kỳ Sơn phê duyệt. Căn cứ kết quả phê duyệt, UBND huyện Kỳ Sơn ra Quyết định cấp nguồn kinh phí hỗ trợ tiền ăn bán trú cho học sinh với mức hàng tháng mỗi học sinh được hưởng 40% mức lương cơ sở và được hưởng không quá 09 tháng/năm học/học sinh.

Hàng tháng kế toán lập bảng kê rút tiền và giao dịch qua dịch vụ công với Kho bạc Nhà nước rồi thủ quỹ đến Ngân hàng để rút tiền mặt và nhập quỹ tiền mặt của nhà trường. Sau đó, Trương Xuân C căn cứ vào danh sách học sinh được hưởng chế độ do UBND huyện phê duyệt lập danh sách phát tiền cho học sinh để Hoàng Đình T thông qua giáo viên chủ nhiệm làm các thủ tục phát tiền. Tuy nhiên trên thực tế, Hoàng Đình T không thực hiện việc phát tiền mà chỉ đưa danh sách để học sinh ký nhận hợp thức chứng từ để Trương Xuân C làm thủ tục thanh quyết toán.

Với mục đích vụ lợi từ số tiền ăn bán trú của học sinh, Phạm Mạnh H và Trương Xuân C đã thống nhất với nhau về việc Phạm Mạnh H sẽ hỗ trợ chi cho Trương Xuân C số tiền 7.000.000đ/tháng từ nguồn tiền ăn bán trú để Trương Xuân C sẽ chịu trách nhiệm làm chứng từ thanh quyết toán tài chính và hỗ trợ ký các chứng từ phục vụ thanh tra, kiểm tra còn Phạm Mạnh H sẽ chịu trách nhiệm trực tiếp sử dụng số tiền ăn bán trú này. Số tiền ăn bán trú sau khi rút về, Phạm Mạnh H chỉ đạo Hoàng Đình T nhập quỹ và đưa cho Phạm Mạnh H để Phạm Mạnh H trực tiếp mua thực phẩm phục vụ nấu ăn bán trú, chi mua sắm và các hoạt động phục vụ nấu ăn bán trú, cụ thể.

- Năm học 2020-2021, tổng số tiền ngân sách cấp được rút về là 1.823.164.000 đồng, trong đó đã sử dụng để mua thực phẩm phục vụ nấu ăn bán trú (gạo, thịt, cá, gà, rau, trứng, xôi...) là 1.499.175.000 đồng, các chi phí hợp lý khác phục vụ nấu ăn (Tiền vận chuyển gạo, thực phẩm, công tác phí, mua dụng cụ, gia vị, nhiên liệu, chất đốt…) là 36.485.000 đồng. Số còn lại chưa sử dụng hết 287.504.000 đồng.

- Năm học 2021-2022, tổng số tiền ngân sách cấp được rút về là 2.127.720.000 đồng, trong đó đã sử dụng để mua thực phẩm phục vụ nấu ăn bán trú (gạo, thịt, cá, gà, rau, trứng, xôi...) là 1.757.089.000 đồng, các chi phí hợp lý khác phục vụ nấu ăn (Tiền vận chuyển gạo, thực phẩm, công tác phí, mua dụng cụ, gia vị, nhiên liệu, chất đốt…) là 13.640.000 đồng. Số còn lại chưa sử dụng hết 356.991.000 đồng.

- Năm học 2022-2023, tổng số tiền ngân sách cấp được rút về là 2.056.796.000 đồng, trong đó đã sử dụng để mua thực phẩm phục vụ nấu ăn bán trú (gạo, thịt, cá, gà, rau, trứng, xôi...) là 1.910.654.000 đồng, các chi phí hợp lý khác phục vụ nấu ăn (Tiền vận chuyển gạo, thực phẩm, công tác phí, mua dụng cụ, gia vị, nhiên liệu, chất đốt…) là 22.420.000 đồng. Số còn lại chưa sử dụng hết 123.722.000 đồng.

- Năm học 2023-2024, tổng số tiền ngân sách cấp được rút về là 445.808.000 đồng, trong đó đã sử dụng để mua thực phẩm phục vụ nấu ăn bán trú (gạo, thịt, cá, gà, rau, trứng, xôi...) là 135.388.000 đồng, các chi phí hợp lý khác phục vụ nấu ăn (Tiền vận chuyển gạo, thực phẩm, công tác phí, mua dụng cụ, gia vị, nhiên liệu, chất đốt…) là 79.480.940 đồng. Số còn lại chưa sử dụng hết 230.939.060 đồng.

Tháng 9 và tháng 10 năm học 2023, sau khi Hoàng Đình T chuyển công tác thì Phạm Mạnh H đã chi tiền mặt 310.000.000 đồng để trả tiền ăn tháng 9 và tháng 10/2023. Tổng cộng từ năm 2020 đến năm 2023, số tiền ăn được Nhà nước cấp cho học sinh là 6.453.488.000đ (sáu tỷ bốn trăm năm mươi ba triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn đồng), Phạm Mạnh H sử dụng để phục vụ việc nấu ăn bán trú số tiền 5.764.331.940đ (năm tỷ bảy trăm sáu mươi tư triệu ba trăm ba mươi mốt nghìn chín trăm bốn mươi đồng), còn lại số tiền 689.156.060đ (sáu trăm tám mươi chín triệu một trăm năm mươi sáu nghìn không trăm sáu mươi đồng) không được sử dụng để nấu ăn bán trú cho học sinh mà được các bị cáo sử dụng trái mục đích, trái quy định gây thất thoát, trong số này theo sự chỉ đạo của Phạm Mạnh H thì Hoàng Đình T trước khi chuyển đơn vị công tác đã tham gia thực hiện chi trái quy định số tiền 328.053.000đ (ba trăm hai mươi tám triệu không trăm năm mươi ba nghìn đồng).

Như vậy, đối với các nội dung sai phạm liên quan đến tiền thuê nhân viên bảo vệ nhà trường; tiền thuê giáo viên, nhân viên thiết bị do nghỉ sinh và thiếu biên chế; lạm thu tiền điện của học sinh; sử dụng tiền ăn bán trú của học sinh trái quy định, Phạm Mạnh H, Trương Xuân C, Hoàng Đình T đã gây thất thoát tổng số tiền 995.442.460đ (chín trăm chín mươi lăm triệu bốn trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm sáu mươi đồng), cụ thể:

- Phạm Mạnh H gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân và chịu trách nhiệm số tiền là: 995.442.460đ, (bao gồm tiền thuê nhân viên bảo vệ: 151.800.000đ, tiền thuê giáo viên, nhân viên thiết bị do nghỉ sinh và thiếu biên chế 66.566.400đ, tiền điện lạm thu của học sinh: 87.920.000đ và tiền ăn bán trú: 689.156.060đ), vụ lợi cá nhân số tiền 342.332.268đ.

- Trương Xuân C với vai trò đồng phạm giúp sức với Phạm Mạnh H, Hoàng Đình T gây thiệt hại và chịu trách nhiệm số tiền là: 879.708.660đ (bao gồm tiền thuê nhân viên bảo vệ: 127.800.000đ, tiền thuê giáo viên, nhân viên thiết bị do nghỉ sinh và thiếu biên chế 62.752.000đ và tiền ăn bán trú: 689.156.060đ), vụ lợi cá nhân 193.261.000đ.

- Hoàng Đình T với vai trò đồng phạm giúp sức với Phạm Mạnh H, Trương Xuân C gây thiệt hại và chịu trách nhiệm số tiền là: 634.339.400đ (trong đó bao gồm tiền thuê nhân viên bảo vệ: 151.800.000đ, tiền thuê giáo viên, nhân viên thiết bị do nghỉ sinh và thiếu biên chế 66.566.400đ, tiền điện lạm thu của học sinh: 87.920.000đ và tiền ăn bán trú: 328.053.000đ), vụ lợi cá nhân số tiền 11.200.000đ.

Trong quá trình sử dụng số tiền có được từ hoạt trái công vụ nêu trên, Phạm Mạnh H đã chi cho Đinh Thị P (kế toán từ tháng 01/2020 đến tháng 08/2020) số tiền 12.400.000đ (mười hai triệu bốn trăm nghìn đồng), Nguyễn Đình H4 (Phó hiệu trưởng) số tiền 47.400.000đ (bốn mươi bảy triệu bốn trăm nghìn đồng), Nguyễn Viết T2 (Phó hiệu trưởng) số tiền 14.800.000đ (mười bốn triệu tám trăm nghìn đồng). Tuy nhiên khi chi tiền thì Phạm Mạnh H chỉ nói đó là tiền hỗ trợ công tác phí, Đinh Thị P, Nguyễn Đình H4, Nguyễn Viết T2 không biết nguồn tiền đó do đâu mà có.

+ Hành vi “Tham ô tài sản” của Phạm Mạnh H.

Năm học 2022- 2023, Trường PTDTBT THCS N chủ trương kêu gọi phụ huynh học sinh đóng góp tiền mua tivi cho các khối lớp phục vụ việc dạy và học trên tinh thần tự nguyện và đã góp tiền mua được 08 chiếc tivi để phục vụ học tập cho học sinh.

Đến ngày 09/11/2022, UBND huyện Kỳ Sơn cấp nguồn kinh phí bổ sung theo Quyết định số 338/QĐ-UBND cho Trường PTDTBT THCS N với số tiền 68.000.000đ (sáu mươi tám triệu đồng) phục vụ mua sắm thiết bị chuyên môn cho nhà trường. Lợi dụng việc trước đó đã sử dụng tiền tự nguyện đóng góp của phụ huynh học sinh để mua tivi nhưng chưa xuất hóa đơn giá trị gia tăng nên Phạm Mạnh H đã liên hệ với công ty TNHH điện máy Hải Lan (đơn vị đã bán tivi trước đó) để yêu cầu xuất hoá đơn, sau đó chỉ đạo Trương Xuân C để làm thủ tục thanh quyết toán 04 chiếc tivi nhãn hiệu KD - 65x80K với số tiền 68.000.000đ (sáu mươi tám triệu đồng) (Trương Xuân C không biết việc cụ thể có mua tivi hay không mà chỉ nhận hóa đơn từ hiệu trưởng để lập hồ sơ thanh quyết toán). Ngày 06/01/2023 và ngày 09/01/2023, Kho bạc đã duyệt chi số tiền 68.000.000đ vào tài khoản ngân hàng của công ty TNHH điện máy Hải Lan thì đến ngày 06/3/2023, Phạm Mạnh H đến công ty lấy lại số tiền 68.000.000đ (sáu mươi tám triệu đồng) và sử dụng số tiền này để chi tiêu cá nhân.

Ngày 09/09/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Sơn trưng cầu Sở Tài chính tỉnh Nghệ An giám định thiệt hại do hành vi của các bị cáo gây ra. Tại bản kết luận giám định tập thể ngày 29/10/2024 của Hội đồng giám định tập thể Sở tài chính tỉnh Nghệ An đã xác định được các mức độ sai phạm như sau:

- Đối với sai phạm liên quan đến tiền thuê nhân viên bảo vệ nhà trường: Các cá nhân Trường PTDTBT THCS N lập chứng từ chi nghiệp vụ kinh tế, tài chính không phát sinh nên đã gây thiệt hại cho Trường PTDTBT THCS N số tiền là 151.800.000đ (một trăm năm mười mốt triệu đồng).

- Đối với sai phạm liên quan đến tiền thai sản, thiếu biên chế: Việc các cá nhân Trường PTDTBT THCS N lập chứng từ chi nghiệp vụ kinh tế, tài chính không phát sinh nên đã gây thiệt hại cho Trường PTDTBT THCS N số tiền là 66.566.000đ (sáu mươi sáu triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).

- Đối với sai phạm trong việc lạm thu tiền điện của học sinh: Việc các cá nhân Trường PTDTBT THCS N thu thêm tiền điện nhưng không có tài liệu chứng minh các hoạt động do học sinh phải chi trả và để ngoài sổ sách kế toán, nên đây là một khoản thu sai và có gây thiệt hại cho học sinh. Số tiền thiệt hại theo số tiền thu sai theo kết quả điều tra là 87.920.000đ (tám mươi bảy triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng).

- Đối với sai phạm liên quan đến tiền ăn bán trú của học sinh: Căn cứ tài liệu, chứng từ kế toán về thực hiện chi trả chế độ tiền ăn bán trú của Trường PTDTBT THCS N từ năm 2020 -2023, đơn vị đã thực hiện đúng theo quy định tại Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016. Tuy nhiên các hoạt động thu, chi từ nguồn thanh quyết toán tiền hỗ trợ tiền ăn bán trú để tổ chức nấu ăn tập trung cho học sinh, đơn vị không phản ánh trong hệ thống sổ sách kế toán theo Luật kế toán.

Số tiền các bị cáo và người liên quan khắc phục thiệt hại:

- Bị cáo Phạm Mạnh H khắc phục số tiền: 734.382.000đ (bảy trăm ba mươi tư triệu ba trăm tám mươi hai nghìn đồng), trong đó 68.000.000đ (sáu mươi tám triệu đồng) số tiền tham ô và 666.382.000đ (sáu trăm sáu mươi sáu triệu ba trăm tám mươi hai nghìn đồng) số tiền gây thất thoát.

- Bị cáo Trương Xuân C khắc phục số tiền: 243.261.000đ (hai trăm bốn mươi ba triệu hai trăm sáu mươi mốt triệu đồng, trong đó có 193.261.000đ (một trăm chín mươi ba triệu hai trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) tiền vụ lợi cá nhân và 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) tiền gây thất thoát.

- Bị cáo Hoàng Đình T khắc phục số tiền: 11.200.000đ (mười một triệu hai trăm nghìn đồng).

- Các cá nhân liên quan khắc phục thiệt hại số tiền được hưởng và nộp vào tài khoản tạm giữ của Công an huyện Kỳ Sơn số tiền 74.600.000đ (bảy mươi tư triệu sáu trăm nghìn đồng), cụ thể:

+ Đinh Thị P khắc phục số tiền: 12.400.000đ (mười hai triệu bốn trăm nghìn đồng);

+ Nguyễn Đình H4 khắc phục số tiền: 47.400.000đ (bốn mươi bảy triệu bốn trăm nghìn đồng);

+ Nguyễn Viết T2 khắc phục số tiền: 14.800.000đ (mười bốn triệu tám trăm nghìn đồng);

Trong số tiền 1.063.443.000đ (Một tỷ không trăm bốn mươi ba triệu đồng) mà các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nộp để khắc phục hậu quả thì có 87.920.000đ (tám mươi bảy triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) số tiền điện lạm thu đã được trả lại cho học sinh, còn lại số tiền 975.523.000đ (Chín trăm bảy mươi lăm triệu năm trăm hai mươi ba nghìn đồng) hiện đã được chuyển vào tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Kỳ Sơn để chờ xử lý.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 27/3/2025, Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 353, điểm c khoản 2 điều 356, các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, điểm a khoản 1 Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Mạnh H 01 năm tù về tội “Tham ô tài sản” và 02 năm 06 tháng tù về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Tổng hợp hình phạt, buộc Phạm Mạnh H phải chấp hành một hình phạt chung cho cả hai tội là 03 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo khác, xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 09/4/2025, bị cáo Phạm Mạnh H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Mạnh H giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Mạnh H, sửa bản án sơ thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Áp dụng khoản 1 Điều 353, điểm c khoản 2 điều 356, các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, điểm a khoản 1 Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Mạnh H 01 năm tù về tội “Tham ô tài sản” và 02 năm về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Tổng hợp hình phạt, buộc Phạm Mạnh H phải chấp hành một hình phạt chung cho cả hai tội là 03 năm tù.

Bị cáo không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Mạnh H, thấy rằng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản án sơ thẩm đã nhận xét, đánh giá. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để khẳng định: Bị cáo là Hiệu trưởng Trường PTDTBT THCS N, là chủ tài khoản, người chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý, điều hành công tác tài chính và sử dụng nguồn ngân sách đươc cấp của đơn vị. Tuy nhiên bị cáo vì động cơ vụ lợi nên đã chỉ đạo các bị cáo khác thực hiện các hoạt động công vụ trái quy định để vụ lợi cá nhân cũng như sử dụng ngân sách trái nguyên tắc tài chính dẫn đến thất thoát, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể, cá nhân với tổng số tiền là 1.063.442.460 đồng (trong đó 995.442.460 đồng do hành vi Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ và 68.000.000 đồng do hành vi tham ô tài sản). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phạm Mạnh H về các tội “Tham ô tài sản” và “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 353, điểm c khoản 2 điều 356 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thấy rằng: bị cáo Phạm Mạnh H là người có chức vụ quyền hạn, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bị cáo đã chỉ đạo các bị cáo khác thực hiện các hoạt động công vụ trái quy định để vụ lợi cá nhân cũng như sử dụng ngân sách trái nguyên tắc tài chính dẫn đến thất thoát, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể, cá nhân với tổng số tiền lớn. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội đã tích cực khắc phục toàn bộ hậu quả, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quá trình công tác lập được nhiều thành tích, nhiều năm liền đạt danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở”, gia đình có nhiều người thân được tặng thưởng các huân, huy chương do có công lao trong kháng chiến, bản thân bị cáo nhiều năm liền công tác tại miền núi nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với các tội danh mà Phạm Mạnh H là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới có công cứu người tự tử, có xác nhận của UBND xã, thực hiện tốt công tác thiện nguyện ủng hộ nhân dân bị lụt bão, có công trong sự nghiệp giáo dục được Bộ trưởng Bộ giáo dục tặng kỷ niệm chương là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo đối với tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người đã biết ăn năn hối cải như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An là có căn cứ pháp luật. Đối với tội “Tham ô tài sản”, bị cáo đã được hưởng mức án khởi điểm của khung hình phạt nên không có căn cứ giảm cho bị cáo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Bị cáo Phạm Mạnh H được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Mạnh H, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo.

Áp dụng khoản 1 Điều 353, điểm c khoản 2 điều 356, các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, điểm a khoản 1 Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Mạnh H 01 (một) năm tù về tội “Tham ô tài sản” và 02 (hai) năm tù về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Tổng hợp hình phạt, buộc Phạm Mạnh H phải chấp hành một hình phạt chung cho cả hai tội là 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo để đi thi hành án nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2024 đến ngày 25/9/2024.

2. Về án phí: Bị cáo Phạm Mạnh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ