vanban.org

Bản án 109/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đình H ly hôn với chị Lê Ngọc M.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Huyền A (nữ), sinh ngày 18/5/2011 cho anh Nguyễn Đình H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Chị Lê Ngọc M không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp giữa anh H và chị M"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đình H ly hôn với chị Lê Ngọc M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2025/HNGĐ-ST
Ngày 19-8-2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Út

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng

Bà Lê Trường An

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Linh là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau.

Ngày 19 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 271/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 206/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1990 (xin vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình (nay là Thôn N, xã S, tỉnh Quảng Trị).

- Bị đơn: Chị Lê Ngọc M, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp S, xã Đ, tỉnh Cà Mau).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn anh Nguyễn Đình H trình bày:

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Đình H và chị Lê Ngọc M tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình ngày 12/6/2012. Vợ chồng chung sống đến năm 2013, chị M tự ý về quê sống dẫn đến ly thân cho đến nay. Hiện nay vợ chồng không còn tình cảm, đời sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc. Nay anh H yêu cầu ly hôn với chị M.

Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên Nguyễn Thị Huyền A (nữ), sinh ngày 18/5/2011, hiện nay anh H đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho chị Lê Ngọc M đúng theo quy định pháp luật, nhưng chị M không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ngày 11/6/2025, nguyên đơn anh Nguyễn Đình H có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt đúng theo quy định pháp luật; bị đơn chị Lê Ngọc M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên xem như từ bỏ quyền của mình tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh H và chị M.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đình H và chị Lê Ngọc M tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình (nay là xã S, tỉnh Quảng Trị) ngày 12/6/2012 đúng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị M được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Đình H, thấy rằng: Hiện nay anh H không còn tình cảm yêu thương chị M và quyết tâm mong muốn được ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, chị M vắng mặt, không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với anh H. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh H và chị M đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Trường hợp tiếp tục chung sống với chị M sẽ không mang lại hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh H được ly hôn với chị M.

Về con chung: Anh H và chị M có 01 người con chung tên Nguyễn Thị Huyền A (nữ), sinh ngày 18/5/2011, hiện nay anh H đang trực tiếp nuôi dưỡng. Trong thời gian vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân, anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến nay. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, chị M không có văn bản thể hiện ý kiến về quyền nuôi con. Cho nên để bảo đảm quyền lợi của con chung sau khi ly hôn, Hội đồng xét xử xem xét trên cơ sở nguyện vọng của con chung mong muốn tiếp tục sống chung với anh H và điều kiện nuôi dưỡng con sau khi ly hôn của anh H vẫn bảo đảm, cuộc sống ổn định nên cần giao cháu Huyền A cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng. Chị M không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh H không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của anh H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 51, 56, 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đình H ly hôn với chị Lê Ngọc M.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Huyền A (nữ), sinh ngày 18/5/2011 cho anh Nguyễn Đình H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Chị Lê Ngọc M không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Đình H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Đình H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Ngày 11/6/2025, anh Nguyễn Đình H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tại Biên lai số 0005750 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Cà Mau), được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ