vanban.org

Bản án 109/2024/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Võ Văn H 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/5/2024. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Võ Văn Hợp - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - Tịch thu; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUYÊN MỘC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Bản án số: 109/2024/HSST
Ngày: 13-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC,

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trần Hiển

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ngô Thị Thúy Nga

2. Bà La Thị Thu Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Thùy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thảo- Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 110/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Văn H, sinh năm 1995 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi cư trú: Ấp C, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H1, sinh năm 1966 (đã chết) và bà Đỗ Thị D, sinh năm 1969; có vợ Nguyễn Đình Hải Y, sinh năm 2001, có 01 người con tên Võ Văn Đ, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

- Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 07/QĐ-TA ngày 03/02/2016, chấp hành xong ngày 26/4/2017;

- Năm 2017, bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 14 tháng theo Quyết định số 76/QĐ-TA ngày 22/12/2017, chấp hành xong ngày 14/10/2018;

- Ngày 14/8/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tuyên phạt 02 năm 02 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 47/2019/HSST, chấp hành xong ngày 28/12/2020;

Bị bắt ngày 17/5/2024. “Có mặt”

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Huy H2, sinh năm 1997. Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 26/3/2024, qua lời khai của Trần Huy H2 là đối tượng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên khoảng 18 giờ cùng ngày Phòng CSĐT PC04 Công an tỉnh B phối hợp với Công an huyện X và Công an xã B, huyện X khám xét khẩn cấp nơi ở của Võ Văn H tại ấp C, xã B, huyện X. Lúc này, H sợ bị phát hiện nên dùng khò ga đốt cháy hộp nhựa màu xanh bên trong có gói nylon chứa ma túy nhằm tiêu hủy. Qua làm việc, H khai ma túy mua của đối tượng tên C giá 800.000 đồng để sử dụng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của mình và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Võ Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về kết luận giám định:

- Tại Bản kết luận giám định số 220/KL-KTHS-MT ngày 02/4/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất rắn và chất bột bên trong 01 gói nylon hàn kín thu giữ của Võ Văn H được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng có hình dấu của Công an xã B-CAH. Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cùng các chữ ký ghi họ tên Thiếu tá Phạm Hoài K, Hoàng Công Đ1, Chu Sỹ B, Võ Văn H gửi đến giám định có khối lượng 3,9704 gam, có chứa thành phần ma túy loại Methamphetamine (bút lục số 34).

- Tại Bản kết luận giám định số 2459/KL-KTHS ngày 03/5/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Chất rắn và bột mịn màu trắng-xanh đựng trong 01 gói nylon, được niêm phong gửi giám định là ma túy, khối lượng 3,4622 gam, có tìm thấy thành phần Methamphetamine. Khối lượng Methamphetamine có trong 3,4622 gam mẫu gửi giám định là 1,5350 gam. Cơ quan giám định không hoàn lại mẫu giám định (bút lục số 39).

Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động Iphone màu xám đen, số Imei: 353890106433102, gắn sim số 0794.453.345, hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc đang tạm giữ.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại Bản cáo trạng số 110/CT-VKSXM, ngày 28/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố Võ Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Võ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám đen, số Imei: 353890106433102, gắn sim số 0794.453.345 là công cụ, phương tiện phạm tội.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo Võ Văn H: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt về với gia đình để làm ăn nuôi con còn nhỏ, mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh, xét thấy: Khoảng 18 giờ ngày 26/3/2024, Phòng CSĐT PC04 Công an tỉnh B phối hợp với Công an huyện X và Công an xã B, huyện X khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo H tại ấp C, xã B, huyện X thì phát hiện bị cáo cất giấu trong hộp nhựa màu xanh ma túy Methamphetamine có khối lượng 1,5350 gam. Hành vi bị cáo cất giấu ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm công tác quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy; gây mất an ninh, trật tự, an toàn tại địa phương; bị cáo có nhân thân xấu, 02 lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, 01 lần bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù nghiêm khắc hơn, cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự và không phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu xám đen, số Imei: 353890106433102, gắn sim số 0794.453.345 là công cụ, phương tiện phạm tội.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu xám đen, số Imei: 353890106433102, gắn sim số 0794.453.345 là có căn cứ, nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Võ Văn H 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/5/2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu xám đen, số Imei: 353890106433102, gắn sim số 0794.453.345

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 12/BB ngày 29/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc).

Án phí: Bị cáo Võ Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ