- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Danh Thị Mỹ D - anh Danh Nhất H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: chấp nhận cho chị Danh Thị Mỹ D được ly hôn với anh Danh Nhất H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30-9-2024 “V/v ly hôn, yêu cầu nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Thị Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh
2. Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: bà Thị Xà Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 200/2024/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 7 năm 2024 về việc “ly hôn, yêu cầu nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 72/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/9/2024 giữa:
Nguyên đơn: chị Danh Thị Mỹ D, sinh năm 1996 (có mặt)
Địa chỉ: ấp X, xã Th, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: anh Danh Nhất H, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp X, xã Th, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn đề ngày 09/7/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Danh Thị Mỹ D trình bày: chị và anh Danh Nhất H quen biết tìm hiểu nhau hơn một tháng thì hai người quyết định kết hôn với nhau, anh chị được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới ngày 07/10/2017 và anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang số vào sổ: 21/2017 ngày 07/2/2017. Sau khi cưới, vợ chồng chị sống hạnh phúc đến tháng 2/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là anh H thường xuyên nhậu nhẹt không lo làm ăn, không phụ giúp tiền bạc nuôi con mà để chị tự nuôi con nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau và anh H còn có hành vi bạo lực gia đình, vì con chị có khuyên anh H cố gắng làm ăn kiếm tiền để lo cho con nhưng anh H không thay đổi, từ đó cuộc sống vợ chồng ngày càng mâu thuẫn dẫn đến không còn hạnh phúc, chị cũng không còn tình cảm dành cho anh H. Chị và anh H đã ly thân từ tháng 2/2023 đến nay, trong thời gian ly thân chị và anh H không có liên lạc và cũng không có gặp nhau, chị xác định không thể hàn gắn hôn nhân với anh H nên chị yêu cầu ly hôn với anh H.
Chị và anh H có hai người con chung tên Danh Thị Huỳnh M1, sinh ngày 12/9/2018 và Danh Thị Ngọc M1, sinh ngày 20/11/2020. Chị D xác định là con lớn tên Danh Thị Huỳnh M1 sống chung bên anh H từ năm 2022, còn chị D thì trực tiếp nuôi con tên Danh Thị Ngọc M1 từ khi vợ chồng ly thân đến nay. Chị D xác định vợ chồng chị không có tài sản chung và cũng không có nợ chung.
Tại phiên tòa, chị D yêu cầu Tòa án giải quyết về hôn nhân cho chị được được ly hôn với anh Danh Nhất H. Về con chung chị D yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con tên Danh Thị Ngọc M1, sinh ngày 20/11/2020 và chị đồng ý giao con tên Danh Thị Huỳnh M1, sinh ngày 12/9/2018 cho anh H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; không bên nào cấp dưỡng cho bên nào. Về tài sản chung và nợ chung không có nên chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Danh Nhất H không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật nhưng anh H không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của anh.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều vắng mặt là không tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, về thời hạn chuẩn bị xét xử đã vi phạm cần khắc phục.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Tuyên xử về hôn nhân chấp cho chị Danh Thị Mỹ D được ly hôn với anh Danh Nhất H. Về con chung: Giao con chung tên Danh Thị Ngọc M1, sinh ngày 20/11/2020 cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; giao con tên Danh Thị Huỳnh M1, sinh ngày 12/9/2018 cho anh H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung chị D không yêu cầu tòa án giải quyết, do đó không đề nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Chị Danh Thị Mỹ D yêu cầu ly hôn với anh Danh Nhất H và chị D yêu câu nuôi con nên xác định quan hệ tranh chấp “ly hôn, yêu cầu nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Anh Danh Nhất H với tư cách là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án vẫn được xét xử theo quy định.
Về hôn nhân: chị D và anh Danh Nhất H quen biết tìm hiểu nhau hơn một tháng thì hai người quyết định kết hôn với nhau, anh chị được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới ngày 07/10/2017 và anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thới Quản, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang số vào sổ: 21/2017 ngày 07/2/2017 theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu của chị D được ly hôn với anh H vì lý do anh H thường xuyên nhậu nhẹt không lo làm ăn, không phụ giúp tiền bạc nuôi con mà để chị tự nuôi con nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau và anh H còn có hành vi bạo lực gia đình, vì thương con chị có khuyên anh H cố gắng làm ăn kiếm tiền để lo cho con nhưng anh H không thay đổi, cuộc sống vợ chồng ngày càng mâu thuẫn dẫn đến không còn hạnh phúc, chị cũng không còn tình cảm dành cho anh H. Chị và anh H đã ly thân từ tháng 2/2023 đến nay. Đối với anh H, Tòa án đã nhiều lần tống đạt và thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có 02 lần tống đạt Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để điều kiện cho vợ chồng anh chị hòa giải, đoàn tụ với nhau nhưng anh H đều không có mặt nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.
Tại phiên tòa, chị D khai rõ trong thời gian ly thân chị và anh H không gặp nhau và cũng không liên lạc với nhau nên không thể hàn gắn đời sống hôn nhân được nữa và chị cũng không còn tình cảm với anh H, chị D cũng tỏ rõ thái độ cương quyết ly hôn với anh H. HĐXX thấy rằng, do trước khi kết hôn anh chị đã không tìm hiểu kỹ cá tính của nhau nên sau thời gian chung sống giữa chị D và anh H mới phát sinh sự bất đồng quan điểm và không còn duy trì được tình yêu thương dành cho nhau nên khi xảy ra mâu thuẫn không giải quyết được dẫn đến tranh chấp kéo dài làm cho tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D là phù hợp.
Về con chung: Chị D khai vợ chồng chị có hai người con chung tên Danh Thị Huỳnh M1, sinh ngày 12/9/2018 và Danh Thị Ngọc M1, sinh ngày 20/11/2020. Về con chung chị D yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con tên Danh Thị Ngọc M1, sinh ngày 20/11/2020 và chị đồng ý giao con tên Danh Thị Huỳnh M1, sinh ngày 12/9/2018 cho anh H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xét thấy, từ khi chị D, anh H ly thân đến nay thì anh H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Danh Thị Huỳnh M1 và chị D trực tiếp nuôi con Danh Thị Ngọc M1. Xét yêu cầu của chị D về con chung là phù hợp với thực tế, không trái đạo đức xã hội và đúng quy định pháp luật, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng, về tài sản chung và nợ chung: chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.
Đối với bị đơn anh Danh Nhất H Tòa án tiến hành thẩm tra, xác minh cho thấy anh H vắng mặt ở nơi cư trú, không rõ thời điểm trở về và không xác định được địa chỉ nơi cư trú mới. Tòa án căn cứ Điều 177, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh H theo quy định nhưng anh H vẫn không có mặt không có lý do và anh H cũng không gửi bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến và yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị D cho Tòa án nên HĐXX không thể xem xét nguyện vọng của anh.
Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Về án phí: bằng 300.000 đồng chị Danh Thị Mỹ D phải nộp do có yêu cầu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 177, Điều 179, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về hôn nhân: chấp nhận cho chị Danh Thị Mỹ D được ly hôn với anh Danh Nhất H.
2. Về con chung: Giao con tên Danh Thị Ngọc M1, sinh ngày 20/11/2020 cho chị Danh Thị Mỹ D chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao con tên Danh Thị Huỳnh M1, sinh ngày 12/9/2018 cho anh Danh Nhất H được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Chị D, anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.
4. Về án phí HNST: bằng 300.000đồng chị Danh Thị Mỹ D phải nộp do chị có yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp trước đây là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 00006060 ngày 09/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị D đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Báo cho chị D được biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 30/9/2024. Báo cho anh H biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
“Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 9, Điều 7, Điều 7a, 7b Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Tm/. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
ThÈm ph¸n-chñ täa phiªn tßa N¬i nhËn : -Tßa ¸n tØnh; -VKS huyÖn; -Chi côc THADS huyện;
(Đã ký) -C¸c ® ¬ng sù; -L u hå s¬.
Danh Thị Kiều Oanh