vanban.org

Bản án 109/2023/HSST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu T phạm tội “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Xử phạt bị cáo Phạm Hữu T 09 (chín) tháng tù, thời hạn từ tính từ ngày bắt chấp hành án. Buộc bị cáo Phạm Hữu T bồi thường cho chị Vũ Thị T số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ lu…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu T phạm tội “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2023/HSST
Ngày: 24-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cao Quốc Hưng

2. Ông Trần Đăng Vạn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Đức – Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2023/HSST ngày 09 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:

Phạm Hữu T; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/01/1982, tại Hà Tĩnh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn S, xã F, huyện D, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: 88/2/52 Ư, phường D, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Họ tên cha: Phạm Hữu Đ, sinh năm: 1943; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị C, sinh năm: 1949; Vợ: Nguyễn Thị Ái, sinh năm 1985, có 4 người con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án,tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/9/2012, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 15 tháng tù treo, thời hạn thử thách 30 tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, chấp hành xong án phí dân sự vào ngày 26/9/2012. Bị cáo tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Anh Lâm Chí T, sinh năm 1976 (chết)

Địa chỉ: 72/2 đường S, phường E, thành phố D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp cho ông Lâm Chí T

1/ Ông Lâm Văn S, sinh năm 1949 (vắng mặt)

2/ Bà Trần Thị N, sinh năm 1955 (vắng mặt)

3/ Chị Vũ Thị T, sinh năm 1978 (có mặt)

4/ Cháu Lâm Vũ Như N, sinh năm 2000 (có mặt)

Cùng địa chỉ: 2385/33 S, phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn dân sự:

Công ty TNHH Thương mại giao nhận và vận tải KH (vắng mặt)

Địa chỉ: S, phường S, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Vũ Thị T, sinh năm 1978 (có mặt)

Địa chỉ: P, phường A, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 26 phút ngày 16/04/2022, Phạm Hữu T (sinh năm 1982) điều khiển xe ôtô đầu kéo biển số 50H-090.61 kéo rơ moóc biển số 51R-402.51 lưu thông trên đường Võ Chí Công hướng từ cầu Phú Mỹ về vòng xoay Phú Hữu. Khi đến vòng xoay Mỹ Thủy, khu phố 3, phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, T điều khiển xe ôtô di chuyển với tốc độ 16km/h sau đó chuyển hướng rẽ phải vào đường Nguyễn Thị Định, do thiếu chú ý quan sát nên đã để cản kim loại đầu xe phía trước bên phải xe ôtô tải đụng vào cạnh bên trái xe môtô biển số 54L5-8105 do anh Lâm Chí T (sinh năm 1976) điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều bên phải xe ôtô tải làm anh T ngã xuống đường sau đó bị bánh xe ôtô tải cán qua. Hậu quả sau tai nạn anh T bị thương nặng được cấp cứu tại bệnh viện Lê Văn Thịnh sau đó chết tại bệnh viện, xe môtô hư hỏng.

Kết luận giám định pháp y số 664 ngày 24/5/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Anh Lâm Chí T chết do đa chấn thương.

Quá trình điều tra, xác định:

- Xe ôtô đầu kéo biển số 50H-090.61 có hạn kiểm định đến ngày 19/4/2022; Rơ moóc biển số 51R-402.51 có hạn kiểm định đến ngày 27/10/2022; Phạm Hữu T có giấy phép lái xe ôtô hạng FC đến ngày 24/9/2023; Phạm Hữu T không có nồng độ cồn trong khí thở và âm tính ma túy.

- Anh Lâm Chí T có nồng độ cồn Ethanol trong máu tim: 291,16 mg/100ml, âm tính ma túy và không có bằng lái xe A1.

Kết luận giám định số 2440 ngày 16/5/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh-Bộ Công an kết luận.

- Dấu vết trượt xước, in hằn, bám chất màu đen mặt ngoài và mặt dưới cản trước đầu xe và dấu vết trượt bám chất màu đen ống kim loại bên phải gắn cản trước đầu xe ôtô đầu kéo biển số 50H-090.61 có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới phù hợp các dấu vết trượt xước, rách, vỡ các chi tiết phía sau bên trái xe môtô biển số 54L5-8105: cạnh biển số, cung sau chắn bùn bánh sau, thanh kim loại bảo vệ cụm đèn tín hiệu phía sau, tay nâng sau yên, đế chân trước có chiều từ sau về trước, từ dưới lên trên. Bên phải cản trước đầu xe ôtô đầu kéo biển số 50H-090.61 và cạnh bên trái biển số xe môtô biển số 54L5-8105 là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện. Khi va chạm 2 phương tiện ở tư thế đứng bình thường.

- Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa rơ moóc biển số 61R-048.06 với xe môtô biển số 59B1-264.55.

- Không phát hiện thấy dấu vết va chạm với phương tiện hoặc vật cản nào khác trên xe ôtô đầu kéo biển số 50H-090.61 kéo theo rơ moóc biển số 51R-402.51 và xe môtô biển số 54L5-8105.

Vật chứng vụ án: 01 xe ôtô đầu kéo biển số 50H-090.61; 01 rơ moóc biển số 51R-402.51; 1 xe môtô biển số 54L5-8105; 01 clip ghi nhận sự việc (lưu theo hồ sơ).

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại nhận số tiền bồi thường là 200.000.000 đồng và không yêu cầu gì khác.

Cáo trạng số 39/CT-VKSTPTĐ ngày 05/01/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Phạm Hữu T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện gia đình bị hại chị Vũ Thị T (vợ của anh Lâm Chí T) trình bày: Trong quá trình điều tra gia đình bị hại có nhận số tiền bồi thường là 200.000.000 đồng và có viết đơn xin bãi nại cho bị cáo, tại phiên tòa hôm nay chị Vũ Thị T yêu cầu bồi thường thêm số tiền là 15.000.000 đồng.

Bị cáo Phạm Hữu T trình bày: Trong quá trình điều tra bị cáo cùng gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng, gia đình bị hại cũng có viết đơn xin bãi nại cho bị cáo, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay chị Vũ Thị T là vợ anh Lâm Chí T có yêu cầu bồi thường thêm số tiền 15.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường thêm số tiền 15.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Hữu T từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù;

Đối với vật chứng của vụ án: Đã xử lý xong nên không có ý kiến.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và chị Vũ Thị T là bồi thường thêm số tiền 15.000.000 đồng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy được hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Đức, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, đại diện bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Hữu T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 26 phút ngày 16/04/2022, tại vòng xoay Mỹ Thủy, khu phố 3, phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Phạm Hữu T có giấy phép lái xe FC điều khiển ôtô đầu kéo biển số 50H-090.61 kéo rơ moóc biển số 51R-402.51 lưu thông trên đường và rẽ phải vào đường Nguyễn Thị Định, do Phạm Hữu T thiếu chú ý quan sát nên cản kim loại đầu xe phía trước bên phải xe ôtô tải đụng vào cạnh bên trái xe môtô biển số 54L5-8105 do anh Lâm Chí T điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều bên phải xe ôtô tải làm anh T ngã xuống đường và bị bánh xe đầu kéo cán qua. Hành vi của Phạm Hữu T đã vi phạm vào khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Hậu quả làm cho anh Lâm Chí T chết đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Hữu T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Phạm Hữu T về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét việc để xảy ra tai nạn là do lỗi của bị cáo, bị cáo đã thiếu quan sát khi tham gia giao thông, không tuân thủ các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Bị cáo là người có giấy phép lái xe hạng FC nên biết ôtô là nguồn nguy hiểm cao độ, người điều khiển phải triệt để chấp hành các quy định của Luật giao thông đường bộ để đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông nhưng bị cáo đã không tuân thủ các quy định này. Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm hại đến tính mạng của người khác mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội do đó cần phải có hình phạt tù để thể hiện tính nghiêm của pháp luật. Tuy nhiên cũng xét, trong vụ án này có một phần lỗi của bị hại cụ thể là anh Lâm Chí T điều khiển xe môtô khi có nồng độ cồn trong máu vượt quá quy định, không có bằng lái xe A1, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo nhận tội khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo cùng gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại, gia đình bị hại cũng làm đơn bãi nại cho bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia đình khi phải nuôi bốn người con đang trong độ tuổi ăn học, ngoài ra cha bị cáo đã có thành tích trong Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tặng bằng khen. Do đó, khi quyết định hình phạt, căn cứ Điều 50, cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt phải áp dụng; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điểu 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, trong vụ án này cũng có một phần lỗi của bị hại do đó Hội đồng xét xử xét thấy có căn để áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Xử lý vật chứng:

- 01 xe ôtô đầu kéo biển số 50H-090.61; 01 rơ moóc biển số 51R-402.51; 01 xe môtô biển số 54L5-8105 Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại chủ sở hữu là phù hợp quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra gia đình bị hại đã nhận số tiền bồi thường là 200.000.000 đồng và không yêu cầu gì khác, tuy nhiên tại phiên tòa chị Vũ Thị T là vợ anh Lâm Chí T yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền là 15.000.000 đồng và bị cáo cũng đồng ý bồi thường thêm số tiền 15.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị Vũ Thị T và bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu T phạm tội “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

2. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Phạm Hữu T 09 (chín) tháng tù, thời hạn từ tính từ ngày bắt chấp hành án.

3. Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584; Điều 585; Điều 591; Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Phạm Hữu T bồi thường cho chị Vũ Thị T số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Phạm Hữu T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 (bảy trăm năm mươi ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Bị cáo, đại diện bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ