vanban.org

Bản án 109/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 24/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BỐ TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2023/HSST
Ngày 24 - 11 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Quảng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Dương Quốc Phòng và ông Võ Đình Vang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện VKSND huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phan Mạnh Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 102/2023/TLST- HS ngày 24 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2023/QĐXXST – HS ngày 06/11/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thế A; giới tính: nam; sinh ngày 05/9/1987 tại huyện B, tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký cư trú: Thôn 1 T, xã P, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 08/12 (biết đọc, biết viết); con ông: Nguyễn Thành Đ và bà Lê Thị Đ; vợ: Hoàng Thị Hồng G, sinh năm 1989; con: có 02 con (con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2015).

Quá trình nhân thân: Ngày 27/5/2015 bị Tòa án nhân huyện Bố Trạch xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Tiền sự: không;

Tiền án: Có 02 tiền án. Tại bản án số 58/2015/HSST ngày 26/8/2015 của TAND huyện Bố Trạch đã chấp hành xong hình phạt tù, đối với phần bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại 1.200.000 đồng chưa bồi thường; Tại bản án số 87/2015/HSPT ngày 20/8/2015 của TAND tỉnh Quảng Bình, đã chấp hành xong hình phạt tù, đối với án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm 57.180.672 đồng và liên đới bồi thường để sung công 6.361.345.000 đồng chưa thi hành.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình từ ngày 01/6/2023 cho đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 01/6/2023 nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, tại nhà ở của Nguyễn Thế A, sinh năm 1987 trú tại thôn 1 T, xã P, huyện B, tỉnh Quảng Bình có Nguyễn Thế A đang sử dụng ma túy. Công an huyện Bố Trạch đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Thế A. Quá trình kiểm tra, phát hiện Nguyễn Thế A đang nằm trên giường ngũ ở tầng một, bên cạnh chân tủ áo quần có một bộ sử dụng ma túy hồng phiến, một chai thủy tinh màu nâu, có nắp màu trắng bên trong có chứa 112 viên nén hình tròn màu hồng nghi là ma túy hồng phiến.

Quá trình điều tra Nguyễn Thế A khai nhận: Năm 2022, Nguyễn Thế A gặp một người đàn ông tên “H” (trú tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình) tại xã P, huyện B và biết được “H” có bán ma túy. Khoảng tháng 4 năm 2023 “H” gọi điện thoại cho Nguyễn Thế A, hỏi có mua ma túy không, Nguyễn Thế A đồng ý mua. Sau đó, “H” đến xã P, huyện B bán cho Nguyễn Thế A 200 viên ma túy hồng phiến với giá 6.000.000 đồng, Nguyễn Thế A đưa ma túy về nhà cất dấu để sử dụng dần (bút lục số: 21-23; 54-68).

Tại bản kết luận giám định số 596/KL - KTHS ngày 07/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: 112 viên nén hình tròn, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY” là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 9,989g. Methamphetamine nằm trong dA mục các chất ma túy, số thứ tự: 247, DA mục IIC, NĐ số 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ (bút lục số 28 - 30).

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch thu giữ: 01 chai thủy tinh màu nâu, có nắp màu trắng bên trong có 112 viên nén hình tròn, màu hồng (sau khi giám định còn lại 9,773 gam được bỏ vào một bì thư dán kín, có số 596/KL - KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình); thu giữ 01 chai thủy tinh nhãn hiệu Corona thân chai có đục lỗ và được cắm một ống nhựa (bút lục số: 21- 23).

Tại bản Cáo trạng số 102/CT - VKSBT ngày 24/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thế A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án đối với Nguyễn Thế A.

Đề nghị xử phạt:

Nguyễn Thế A từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2023.

Về hình phạt bồ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 chai thủy tinh màu nâu, có nắp màu trắng; Một phong bì thư dán kín, có số 596/KL – KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình; 01 chai thủy tinh nhãn hiệu Corona thân chai có đục lỗ và được cắm một ống nhựa.

Số vật chứng nói trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Theo lời khai của A thì số ma túy trên mua từ một đối tượng tên “H” trú tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Quá trình điều tra không xác định được danh tính và địa chỉ của đối tượng tên “H”, nên không có căn cứ để xử lý. Đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện Bố Trạch tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ thì tiếp tục xử lý.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bố Trạch, Điều tra viên Công an huyện Bố Trạch, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không gian, thời gian, địa điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang...hoàn toàn phù hợp nhau. Do đó Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:

Methamphetamine là chất ma túy bị pháp luật Việt Nam nghiêm cấm tàng trữ trái phép dưới mọi hình thức, nhưng vào lúc 01giờ 30 phút, ngày 01/6/2023 tại nhà ở của Nguyễn Thế A, thuộc thôn 1 T, xã P, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Nguyễn Thế A đang có hành vi tàng trữ trái phép 9,989gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng, thì bị lực lượng Công an huyện Bố Trạch phát hiện và bắt giữ quả tang. Hành vi của Nguyễn Thế A là nguy hiểm cho xã hội, nên A phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định nội dung vụ án như trình bày ở trên là hoàn toàn đúng, do vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thế A có lý lịch nêu trên phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố và phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà.

[3] Xét tính chất hành vi, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra trong vụ án, thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lổi có ý trực tiếp, hành vi đó không những xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất kích thích, chất gây nghiện mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội nói chung, gây nên những hậu quả lâu dài về nhiều mặt cho xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác và bị xã hội lên án. Bị cáo biết rõ như vậy nhưng do ý thức không chấp hành pháp luật nên đã phạm tội, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố đối với bị cáo về tội danh và điểm, khoản của điều luật nêu trên và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Ngoài ra bị cáo đã nhiều lần bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bản thân bị cáo chưa có ý thức hướng thiện một cách đầy đủ.

Do đó đối với bị cáo cần đánh giá quá trình nhân thân, xem xét tình tiết tăng nặng, cân nhắc tình tiết giảm nhẹ để xử phạt mức án tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung về loại tội phạm này.

[4] Về nhân thân bị cáo: Ngày 27/5/2015 bị Tòa án nhân huyện Bố Trạch xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

[5] Tình tiết tăng nặng: Năm 2015, Nguyễn Thế A đã bị TAND huyện Bố Trạch và TAND tỉnh Quảng Bình xét xử về các tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Hiện, chưa thi hành xong bản án đối với phần bồi thường cho bị hại, án phí hình sự, án phí dân sự, nộp để sung công quỹ Nhà nước đối với các bản án “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Các hành vi của các bản án sau được xẩy ra trước, sau đó mới bị phát hiện khởi tố, xét xử, nên Nguyễn Thế A phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thế A đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bố bị cáo có đơn trình bày bản thân bị cáo trong cuộc sống, sinh hoạt tại địa phương có làm từ thiện và giúp đỡ một số người có hoàn cảnh khó khăn được thôn và xã xác nhận, tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và có xem xét thêm hoàn cảnh, điều kiện gia đình của bị cáo hiện nay là vợ đã bỏ nhà đi đâu, làm gì không rỏ, một mình bị cáo phải chăm sóc các con.

[7] Về hình phạt chính: Trên cơ sở những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử cân nhắc, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, tính nhân đạo của pháp luật để quyết định hình phạt đảm bảo tính giáo dục và trừng trị mang tính thuyết phục đối với bị cáo.

Theo đó đối với bị cáo cần xem xét xử phạt mức hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung về loại tội phạm này là phù hợp.

Theo lời khai của A thì số ma túy trên mua từ một đối tượng tên “H” trú tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Quá trình điều tra không xác định được danh tính và địa chỉ của đối tượng tên “H”, nên không có căn cứ để xử lý. Đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện Bố Trạch tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ thì tiếp tục xử lý là phù hợp.

[8] Về hình phạt bổ sung: Hiện nay bị cáo chưa có công việc làm thường xuyên, thu nhập không ổn định nên cần miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[9] Về vật chứng vụ án:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 chai thủy tinh màu nâu, có nắp màu trắng; Một phong bì thư dán kín, có số 596/KL – KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình; 01 chai thủy tinh nhãn hiệu Corona thân chai có đục lỗ và được cắm một ống nhựa là vật cấm lưu hành và công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.

Số vật chứng nói trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm h, khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án đối với Nguyễn Thế A.

[1] Về tội dA: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Về hình phạt: Xử phạt:

Nguyễn Thế A 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2023.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (24/11/2023) theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

[3] Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 chai thủy tinh màu nâu, có nắp màu trắng; Một phong bì thư dán kín, có số 596/KL – KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình; 01 chai thủy tinh nhãn hiệu Corona thân chai có đục lỗ và được cắm một ống nhựa.

Số vật chứng nói trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch.

[5] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thế A phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.

[6] Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm vụ án.

Cỡ chữ