vanban.org

Bản án 109/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 27/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/9/2023. *. Về vật chứng và xử lý vật chứng: căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
_______________________
Bản án số: 109/2023/HS-ST
Ngày: 27/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thùy Dương

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Đỗ Thị Hân

- Ông Nguyễn Huy Lâm

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Tạ Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T (tên gọi khác: không); sinh ngày 23/6/1995, tại huyện Y, tỉnh Yên Bái; nơi thường trú: thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái; nơi ở hiện tại: khu E, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hạnh K và bà Mai Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; nhân thân: ngày 24/8/2018, Công an huyện Y, tỉnh Yên Bái phạt hành chính về hành vi cố ý gây tổn hại sức khỏe của người khác; ngày 09/6/2021, Công an xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 25/9/2023, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: ông Vi Văn T1, sinh năm 1949; nơi thường trú: thôn I, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: chiều ngày 25/9/2023, Nguyễn Văn T được bạn sử dụng ma tuý tên là N (không rõ lai lịch, địa chỉ) bảo đi mua ma túy về cùng sử dụng. T đồng ý, thì được N đưa cho 400.000 đồng để đi mua ma túy. Ngay sau đó, T gọi điện thoại cho đối tượng tên là T2 (không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 400.000 đồng ma túy, loại Heroine. T2 đồng ý bán và hẹn đến khu vực cửa hàng X ở khu B, phường H, thành phố M để giao dịch. Khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày, T đi đến địa điểm, thì T2 gọi điện thoại bảo T đi vào trong ngõ đối diện cửa hàng xăng dầu thuộc thôn I, xã H, thành phố M để lấy ma túy. T đi đến nơi hẹn, gặp và đưa cho T2 400.000 đồng. T2 đưa cho T 01 (một) vỏ bao thuốc lá bên trong có cất giấu gói ma tuý rồi bỏ đi. T cầm gói ma túy ở bàn tay trái chuẩn bị đi về, thì bị Tổ công tác của Công an thành phố M kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của T: 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long bên trong đựng 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, gắn sim số: 0387.987.856; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel gắn 02 sim số: 0888.806.995 và 0342.296.056.

Tại bản Kết luận giám định số: 1431/KL-KTHS ngày 30/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: chất bột màu trắng trong gói giấy thu giữ của Nguyễn Văn T gửi giám định là ma túy; loại Heroine; khối lượng 0,164g (không phẩy một sáu bốn gam).

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có lời khai như nội dung vụ án. Ngoài ra, T còn khai nhận nguồn gốc số ma túy trên do T mua của một người đàn ông tên T2 (không rõ lai lịch, địa chỉ) ở khu vực ngõ đối diện cửa hàng xăng dầu thuộc thôn I, xã H, thành phố M với giá 400.000 đồng, ma tuý Heroine, để sử dụng.

Người chứng kiến ông Vi Văn T1 vắng mặt nhưng có lời khai trong hồ sơ thể hiện: khoảng 18 giờ 40 phút ngày 25/9/2023, khi ông T1 đang đứng ngoài cửa nhà thuộc thôn I, xã H, thành phố M thì được cán bộ Công an thành phố mời chứng kiến việc kiểm tra Nguyễn Văn T. Quá trình kiểm tra, ông T1 thấy anh T thả 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu vàng từ tay trái xuống dưới đất nhưng bị lực lượng Công an phát hiện, yêu cầu tự nhặt lên mở ra kiểm tra thì bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng, khi được hỏi về chất bột màu trắng T khai nhận chất bột màu trắng là ma túy Heroine vừa mua được của người đàn ông tên T2 với giá 400.000 đồng.

Liên quan trong vụ án có đối tượng tên T2 bán trái phép ma túy cho T và đối tượng tên N đưa tiền cho T đi mua ma túy về sử dụng, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Tại bản Cáo trạng số: 116/CT-VKS-MC, ngày 14/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Sau khi phân tích nội dung vụ án, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị với Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T từ 18 (mười tám) đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/9/2023.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

Về vật chứng và xử lý vật chứng: căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 0,11g (không phẩy một một gam) ma túy, loại Heroine được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật. Mặt trước phong bì ghi: “mẫu vật hoàn lại kèm theo kết luận giám định số: 1431/KL-KLHS ngày 30/9/2023”; 01 (một) vỏ bao thuốc lá, màu vàng, nhãn hiệu Thăng Long. Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, bên trong lắp 01 sim, máy đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đen, bên trong lắp 02 sim, máy đã qua sử dụng;

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng truy tố bị cáo. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ; biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người chứng kiến. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 18 giờ 40 phút ngày 25/9/2023, tại thôn I, xã H, thành phố M, Nguyễn Văn T có hành vi cất giấu trái phép 0,164g (không phẩy một sáu bốn gam) ma túy, loại Heroine để sử dụng, thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi nhận thức rõ tác hại của ma túy, để thỏa mãn nhu cầu riêng của bản thân bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì vậy cần xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.

[3] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Văn T có nhân thân xấu ngày 24/8/2018, Công an huyện Y, tỉnh Yên Bái phạt hành chính về hành vi cố ý gây tổn hại sức khỏe của người khác; ngày 09/6/2021, Công an xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử, xét thấy cần thiết ấn định mức hình phạt nghiêm trong khung đã truy tố đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng và xử lý vật chứng:

- Sau khi giám định, Phòng K1 Công an tỉnh Q hoàn lại Cơ quan CSĐT Công an thành phố M là 0,11g (không phẩy một một gam) ma túy, loại Heroine kèm theo kết luận giám định số: 1431/KL-KLHS ngày 30/9/2023 theo đúng quy định của pháp luật là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 (một) vỏ bao thuốc lá, màu vàng, nhãn hiệu Thăng Long không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, bên trong lắp 01 sim số 0387.987.856, máy đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn T đây là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đen, bên trong lắp 02 sim số 0888.806.995 và 0342.296.056, máy đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T là tài sản hợp pháp của bị cáo T không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T.

[7] Về nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm: cần buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Đối với người đàn ông tên T2 bán trái phép ma túy cho T và đối tượng tên N đưa tiền cho T đi mua ma túy về sử dụng, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/9/2023.

*. Về vật chứng và xử lý vật chứng: căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: 0,11g (không phẩy một một gam) ma túy, loại Heroine được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật. Mặt trước phong bì ghi “mẫu vật hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số: 1431/KL-KTHS ngày 30/9/2023”; 01 (một) vỏ bao thuốc lá, màu vàng, nhãn hiệu Thăng Long.

- Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số IMEI 1: 357723108518875, số IMEI 2: 357723108518883, bên trong lắp 01 sim số 0387.987.856 máy đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đen, số IMEI 1: 358477108171305, số IMEI 2: 358477108171313, bên trong lắp 02 sim số 0888.806.995 và 0342.296.056, máy đã qua sử dụng

(tình trạng số vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng số: 27/2024/THA, ngày 15 tháng 11 năm 2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh và Cơ quan CSĐT Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh).

*. Về nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

*. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ