- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Thị Thu Thảo tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Thị Thu Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2023/HS-ST Ngày 25/10/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Minh Khôi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Cao Thắng và bà Hoàng Thị Tuyết Nhung.
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Lực - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Thái Hà Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 96/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:
Dƣơng Thị Thu Th, sinh ngày 19/4/1995, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Khu phố M, phường L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Tiến H và bà Nguyễn Thị C; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con út, chồng: Lý Minh K (đã ly hôn); con: Lý Tuệ Gi, sinh năm 2015 ở với bị cáo tại khu phố M, phường L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2023 đến ngày 02/8/2023 thì được tại ngoại. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chăn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 5/2023 đến ngày 13/6/2023, Dương Thị Thu Th làm nghề nhân viên phục vụ cho các quán Karaoke trên địa bàn thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Quá trình làm nhân viên phục vụ khách tại quán Karaoke, Th được khách rủ đi làm nhân viên phục vụ bay (Vừa phục vụ khách hát, dìu khách và sử dụng ma túy cùng khách). Trong mỗi lần làm nhân viên phục vụ khách “bay” thì Th được khách cho 01 đến 02 viên ma túy “kẹo” để sử dụng, nhưng Th không sử dụng mà cất trong túi xách hoặc trong túi quần sau đó đưa về nhà thuê ở số 79 đường Lê Thế Hiếu (thuộc Khu phố 7, Phường 1, thành phố Đông Hà) rồi Th bỏ vào trong một túi nilon trong suốt, dạng túi “nhíp” bên ngoài được gói bằng 02 túi ny lông màu xanh và màu trắng và cất giấu vào trong ngăn thứ 2 bên trái tủ kính trong phòng ngủ của Th để nhằm mục đích khi nào cần thì lấy ra sử dụng.
Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 13/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà kiểm tra hành chính, phát hiện và bắt quả tang thu giữ của Th gồm: 10 viên nén màu xanh, hình lựu đạn và các vật dụng liên quan được niêm phong trong bì thư có ký hiệu: MT.
Tại bản kết luận giám định số 578/KLGĐ ngày 16/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị đã kết luận: 10 viên nén hình lựu đạn, được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT thu giữ của bị cáo Th là ma túy loại MDMA, có khối lượng 4,5206 gam.
Cáo trạng số: 101/CT-VKSĐH ngày 09/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Dương Thị Thu Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Thị Thu Th từ 3 năm 6 tháng đến 3 năm 9 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) túi niêm phong ký hiệu mã số PS3 1905476, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và 01 (một) túi nilon màu trắng, có kích thước 34cm x26cm.
+ Trả lại cho bị cáo Dương Thị Thu Th 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, có gắn sim số: 0355579438, IMEI: 352987119177428 đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh, có gắn sim số: 0829278416, IMEI: 358044848007544 đã qua sử dụng.
Bị cáo Dương Thị Thu Th trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai trái vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đễn xã hội. nay bị cáo xin HĐXX xem xét giải nhẹ cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người tốt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét thấy: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đông Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo Dương Thị Thu Th đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Trong thời gian làm nhân viên phục vụ khách tại các quán Karaoke trên địa bàn thành phố Đông Hà, bị cáo Dương Thị Thu Th nhiều lần được khách cho ma túy “kẹo”, nhưng Th không sử dụng mà đưa về nhà thuê ở trọ tai số 79 đường Lê Thế Hiếu, khu phố 7, Phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị cất giấu để nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an thành phố Đông Hà phát hiện và bắt quả tang vào ngày 13/6/2023, thu giữ của Th gồm: 10 viên nén màu xanh, hình lựu đạn và các vật dụng liên quan được niêm phong trong bì thư có ký hiệu: MT.
Căn cứ bản kết luận giám định số 578/KL- KTHS ngày 16/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, cho thấy 10 viên nén màu xanh, hình lựu đạn mà bị cáo Th cất giấu, tàng trữ nhằm mục đích sử dụng có khối lượng 4,5206 gam, là ma tuý loại MDMA. Do đó, hành vi của bị cáo Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Ma túy, hiện đang là một trong những tệ nạn bức xúc nhất của xã hội, gây tác hại rất nhiều mặt đến đời sống kinh tế và xã hội, gây nên sự bất an và làm mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến đời sống của quần chúng nhân dân sống trên địa bàn. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt xét thấy: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, hiện đã ly hôn và là người đang trực tiếp nuôi con còn nhỏ, tuy không phải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nhưng cũng cần xem xét khi áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo.
Về vật chứng: Quá trình điều tra Công an thành phố Đông Hà thu giữ gồm: 01 (một) túi niêm phong ký hiệu mã số PS3 1905476, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị; 01 (một) túi nilon màu trắng, có kích thước 34cm x 26cm; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, có gắn sim số: 0355579438, IMEI: 352987119177428 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh, có gắn sim số: 0829278416, IMEI: 358044848007544. Xét thấy:
- Đối với 01 (một) túi niêm phong ký hiệu mã số PS3 1905476, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và 01 (một) túi nilon màu trắng, có kích thước 34cm x26cm, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật hiện không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, có gắn sim số: 0355579438, IMEI: 352987119177428 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh, có gắn sim số: 0829278416, IMEI: 358044848007544, đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo Th, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tiếp tục ban hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Dương Thị Thu Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Thị Thu Th 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2023 đến ngày 02/8/2023.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong ký hiệu mã số PS3 1905476, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và 01 (một) túi nilon màu trắng, có kích thước 34cm x 26cm.
Trả lại cho bị cáo Dương Thị Thu Th 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, có gắn sim số: 0355579438, IMEI: 352987119177428 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh, có gắn sim số: 0829278416, IMEI: 358044848007544 đã qua sử dụng.
Vật chứng trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị và có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/10/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Dương Thị Thu Th phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Q.Trị; - VKSND TP Đông Hà; - Công an TP Đông Hà; - Thi hành án Hình sự; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị; - Chi cục THADS TP Đông Hà; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Minh Khôi |