- Tranh chấp gì? án hình sự — "BÙI THANH TỊNH - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ: -Điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109 /2023/HS-ST Ngày: 30/05/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim D
Bà Trần Thị Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng H - Thư ký Tòa án,Tòa án nhân dân quận H, thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 05 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số . 94/2023/TLST- HS ngày 12 tháng 04 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2023/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 05 năm 2023, đối với bị cáo:
BÙI THANH T, sinh năm: 1963, tại: Nam Định; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 12, xã T, huyện G, tỉnh Nam Định; cư trú: không cố định; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Thiện C (tên khác: Bùi Văn C) (đã chết) và bà : Nguyễn Thị N (đã chết); có vợ: Nguyễn Hương S; có 02 con sinh năm 1991, 2002; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 25/01/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, thành phố H quyết định khởi tố bị can về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đến ngày 25/7/2016, đã quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị can Bùi Thanh T;
Bị cáo bị tạm giữ ngày: 03/01/2023; Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 03/01/2023, Bùi Thanh T đi bộ đến khu vực ngách 88/1/6 G, phường T, quận H, thành phố H mua của 01 đối tượng nam thanh niên không quen biết 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, sau đó T cất giấu gói ma túy trong lòng bàn tay trái để đi tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an phường T kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện và thu của Bùi Thanh T 01 gói nhỏ bọc giấy vàng kích thước (1x2)cm đựng chất bột màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng số imei 1: 864214035757030, imei 2: 864214035757022 đã qua sử dụng. Cơ quan Công an đã lập biên bản và đưa T về trụ sở để điều tra làm rõ.
Cơ quan điều tra đã Quyết định trưng cầu giám định đối với gói chất bột màu trắng thu giữ của T.Tại Kết luận giám định số 230/KL-KTHS ngày 10/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu vàng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,172 gam”.
Cơ quan điều tra đã dẫn giải T đi xác định địa điểm mua ma túy và người bán ma túy cho T.T đã chỉ được địa điểm nhưng không xác định được đối tượng bán ma tuý nên không có cơ sở để xác minh, xử lý.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng số imei 1: 864214035757030, imei 2: 864214035757022 đã thu giữ của T qua kiểm tra điện thoại không phát hiện được thông tin gì liên quan đến vụ án.
*Tại bản cáo trạng số 98/CT-VKSHM ngày 10/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận H đã truy tố Bùi Thanh T tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[2] Tại phiên tòa: Bị cáo Bùi Thanh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng số 98/CT-VKSHM ngày 10/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận H đã truy tố. Bị cáo thừa nhận khối lượng 0,172 gam ma túy loại Heroine bị thu giữ trong lòng bản tay trái khi bị bắt quả tang là của bị cáo. Mục đich bị cáo mua ma túy về sử dụng. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình bị truy tố là đúng tội, quá trình điều tra không bị ai đánh đập, đe dọa, ép cung. Đề nghị Toà xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bùi Thanh T từ 16 tháng tù đến 20 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền; Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 0,172 gam Heroine; Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng số imei 1: 864214035757030, imei 2: 864214035757022.
[3]. Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo Bùi Thanh T thừa nhận nội dung truy tố, luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo mà Kiểm sát viên đã đưa ra là đúng, không oan, sai nên không có tranh luận gì.
[4]. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai, điều tra viên, Viện kiếm sát nhân dân quận Hoàng Mai, kiểm sát viên trong quá tình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa thể hiện: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu được trong vụ án và kết luận giám định. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 03/01/2023, tại ngách 88/1/6 G, phường T, quận H, thành phố H , Bùi Thanh T đã có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,172 gam ma túy loại Heroine trong lòng bàn tay trái của T với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường T, quận H bắt quả tang và thu giữ tang vật.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi giấu giữ trái phép khối lượng 0,172 gam ma túy loại Heroine trong lòng bàn tay trái của T với mục đích để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận H truy tố theo tội danh và điều luật trên là hoàn toàn đúng pháp luật.
. Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm, tiếp tay cho các tệ nạn buôn bán ma túy ngày càng phát triển. Bị cáo biết được tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thỏa mãn sự nghiện ngập của bản thân. Nhân thân bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy chưa bị xử lý. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời cũng đảm bảo công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm.
. Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét bị cáo khai báo thành khẩn hành vi phạm tội, thái độ ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
. Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Đối với khối lượng 0,172 gam ma túy loại Heroine cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng số imei 1: 864214035757030, imei 2: 864214035757022, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
.Về các vấn đề khác:
- Đối với đối tượng bán ma túy cho Bùi Thanh T cơ quan điều tra không xác định được nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Bùi Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và các điều luật quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề xuất mức án đối với bị cáo và biện pháp tư pháp là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục 1 Danh mục án phí lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: -Điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ: - Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1]. Xử phạt: Bùi Thanh T 18 ( Mười tám ) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/01/2023.
[2]. Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
[3]. Biện pháp tư pháp:
-Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có chứa khối lượng 0,172 gam Heroine.
- Trả lại cho bị cáo Bùi Thanh T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng số imei 1: 864214035757030, imei 2: 864214035757022. (Theo biên bản bàn giao vật chứng số: NK 2023- 0130 ngày 11/04/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận H, H).
[4]. Án phí: Bị cáo Bùi Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP H; - Viện kiểm sát quận Hoàng Mai; - Thi hành án quận Hoàng Mai; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn ĐÌnh T |