vanban.org

Bản án 109/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 25/07/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Tấn L;

Sửa bản án sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang; Tuyên bố: Bị cáo Lê Tấn L phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tấn Lợi - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Tấn L;
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2023/HS-PT
Ngày: 25/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Vĩnh Hữu.

Các Thẩm phán: Ông Võ Trung Hiếu.

Ông Mai Văn Hùng Cường.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn – Thư ký.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Phi - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 88/2023/TLPT-HS ngày 05 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Lê Tấn L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

Bị cáo Lê Tấn L, sinh năm 1993, tại Tiền Giang; giới tính: Nam;

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang;

Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 5/12;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Lê Hoàng L1 và bà Lâm Thị Tuyết N;

Bị cáo có vợ Trần Thị Diễm P và có 03 con;

Tiền án: Không;

Tiền sự 01 lần: Ngày 25/8/2021, bị Ủy ban nhân dân huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 85/QĐ-XPVPHC về hành vi rủ rê người khác đánh bạc trái phép (đá gà ăn thua bằng tiền), số tiền bị phạt là 7.500.000 đồng (đã đóng phạt ngày 28/4/2022);

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo; Bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 05/5/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 62FH-0278 đến quán nước giải khát của chị Lê Thị T. Khi đó, tại quán còn có anh Chế Minh T1, anh Phan Văn C và một số người khác đang ngồi uống nước. Anh T2 rủ bị cáo, anh C và 01 người nữa (không rõ họ tên, địa chỉ) đánh bài ăn thua bằng tiền. Bị cáo bỏ ra 100.000 đồng để đánh bài, thỏa thuận mức ăn thua mỗi ván như sau: Người thắng thứ hai ăn tiền của người thua thứ ba là 10.000 đồng. Người thắng thứ nhất ăn tiền của người thua thứ tư là 20.000 đồng. Bị cáo tham gia đánh khoảng 10 ván thì thắng được 40.000 đồng. Anh T2 thắng được 60.000 đồng. Cả hai lấy số tiền đánh bài thắng được trả tiền nước uống.

Đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, anh N1, anh P và một số người khác đến quán uống nước. Anh P lấy điện thoại di động của anh P ra xem đá gà trực tiếp. Bị cáo nhìn thấy anh P xem đá gà thì rủ anh P cá cược. Anh P đồng ý và thỏa thuận tiền cược mỗi ván là 300.000 đồng. Bị cáo chỉ có 100.000 đồng nên rủ anh N1 hùn 200.000 đồng để cá cược với anh P. Ván thứ nhất, bị cáo thắng nên có thêm 100.000 đồng. Ván thứ 2, bị cáo cược 200.000 đồng và hùn với anh N1 100.000 đồng, kết quả bị thua. Tổng cộng số tiền bị cáo cùng anh P tham gia cá cược hai ván đá gà là 600.000 đồng. Sau 02 ván, bị cáo hết tiền nên không chơi tiếp nhưng vẫn ngồi xem. Sau đó, lực lượng Công an xã T, đến bắt quả tang những người đang đánh bài, cá cược đá gà cùng với bị cáo.

Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang đã Quyết định:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Tấn L phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lê Tấn L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

*. Ngày 02/5/2023, bị cáo Lê Tấn L có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Tấn L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và bị cáo đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình Sự;

Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đưa ra nhiều luận cứ phân tích về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là phù hợp nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Tấn L, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét thời hạn kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào đơn kháng cáo của bị cáo Lê Tấn L thì bị cáo kháng cáo trong thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình Sự;

. Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Tấn L về việc xin xem xét giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Lê Tấn L biết rằng hành vi đánh bạc dưới bất kỳ hình thức là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội;

Vào khoảng 13 giờ ngày 05/5/2022, tại quán nước giải khát của chị Lê Thị T, bị cáo Lê Tấn L đã thực hiện hành vi đánh bài và cá cược đá gà qua mạng. Tổng số tiền trong 10 ván đánh bài và trong 02 ván cá cược đá gà thắng, thua số tiền tổng cộng là 600.000 đồng;

Số tiền bị cáo L dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, ngày 25/8/2021, bị cáo L đã bị Ủy ban nhân dân huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 85/QĐ-XPVPHC về hành vi rủ rê người khác để đánh bạc trái phép (đá gà ăn thua bằng tiền) với số tiền bị phạt là 7.500.000 đồng. Bị cáo đóng phạt ngày 28/4/2022 thì đến ngày 05/5/2022 lại tiếp tục phạm tội đánh bạc;

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Tấn L về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp;

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Lê Tấn L biết rằng đánh bạc dưới mọi hình thức là một tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm quần chúng nhân dân hoang mang, lo sợ, ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình, hoạt động bình thường của xã hội và củng là tiềm ẩn để làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, vì lợi ích cá nhân và nhằm thu lợi bất chính thông qua việc đánh bạc;

Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị Lê Tấn L 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đảm bảo được tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L cung cấp được tình tiết bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo phải nuôi 03 con nhỏ trong đó có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Bị cáo có nơi cư trú ổn định và có nhiều tiền tiết giảm nhẹ ngoài những tình tiết mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo hưởng án treo và trong thời gian thử thách cũng đảm bảo được tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội;

Vì thế Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Tấn L cho nên cần sửa bản án hình sự sơ thẩm.

. Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phù hợp một phần nhận định của Hội đồng xét xử;

Về án phí: Bị cáo Lê Tấn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;

. Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình Sự;

1. Xử: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Tấn L;

Sửa bản án sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Tấn L phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điề 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Tấn L 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Tấn L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang, quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm:

Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình Sự;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Lê Tấn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

*. Nơi nhận:

Cỡ chữ