- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Xuân T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2023/HS-PT Ngày: 14-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Bà Vũ Thị Mai Hương Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Đức Cảnh
Ông Mai Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà:
Bà Đoàn Thị Kim Phượng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:
Bà Đinh Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 87/2023/TLPT-HS ngày 23/10/2023, do có kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 81/2023/HS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy - tỉnh Nam Định. * Bị cáo kháng cáo: Bùi Xuân T , sinh ngày 16-7-1982; Nơi thường trú: Thôn T - xã A - thành phố T - tỉnh T; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Nghề nghiệp: Khi phạm tội là lái xe hợp đồng; Trình độ văn hóa: 9/12; Bố đẻ: Bùi Xuân H (đã chết); Mẹ đẻ: Trần Thị N, sinh năm 1949; Vợ: Lý Thị L (đã ly hôn); Có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2004. Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Ngày 23-4-2007 Công an huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông; Ngày 02-8-2007 Chủ tịch UBND huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang xử phạt hành chính về hành vi vận chuyển khoáng sản trái phép; Ngày 26-10-2007 Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang xử phạt hành chính về hành vi mua bán, vận chuyển khoáng sản trái phép; Bị cáo hiện tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy; *Bị hại: Ông Phạm Văn P (đã chết). *Người đại diện theo pháp luật của bị hại không kháng cáo: 1. Bà Lê Thị N , sinh năm 1965; Nơi thường trú: Xóm Hải Tân, xã Giao Hải, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. 2. Anh Phạm Khánh A, sinh năm 1991; Nơi thường trú: Xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội. 3. Anh Phạm Khánh T , sinh năm 1993; Nơi thường trú: Xóm 7, xã Giao Long, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, 4. Anh Phạm Khuê H , sinh năm 2003; Nơi thường trú: Xóm Hải Tân, xã Giao Hải, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị N , anh Phạm Khánh A, anh Phạm Khuê H là anh Phạm Khánh T (anh Phạm Khánh T có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 07- 02- 2023, Bùi Xuân T (có Giấy phép lái xe hạng E theo quy định) điều khiển xe ô tô khách BKS 18F-001.65 đi trên trục TL489B theo hướng ngã ba T về bến xe thị trấn Q, huyện G. Khi đến gần khu vực ngã tư cầu Q , T quan sát thấy phía trước có 01 ô tô con màu trắng đang dừng đỗ ở sát mép đường bên phải theo chiều đi của T và bật đèn tín hiệu chuyển hướng sang bên trái. Khi T điều khiển xe đi gần đến nơi, mặc dù xe ô tô còn chưa di chuyển, không ảnh hưởng đến việc lưu thông của T nhưng T điều khiển xe đi lấn sang làn đường phía bên trái khoảng 01m và tiếp tục điều khiển xe đi về phía trước vượt qua ô tô con trên thì lúc này Ông Phạm Văn P điều khiển xe gắn máy BKS 18GA-017.40 đi từ trục đường nhánh phía bên trái trục TL489B (theo hướng đi của T ) đã đi ra gần đến đầu đường TL489B. T quan sát thấy ông Phớn đang từ đường nhánh đi ra và còn cách xe của mình khoảng 15-20m nhưng do chủ quan nghĩ ông Phớn sẽ nhường đường cho mình nên T tiếp tục không giảm tốc độ và điều khiển xe chạy về phía trước và vẫn đi lấn sang làn đường bên trái khoảng 01m. Tuy nhiên, ông Phớn tiếp tục cho xe chạy ra lòng đường TL489B và có xu hướng đi cắt ngang qua TL489B, cùng lúc này xe ô tô do T điều khiển cũng đi đến nơi, thấy ông Phớn đi cắt ngang qua ngay trước đầu xe của mình, T liền đạp phanh và đánh lái xe ô tô về phía bên phải theo chiều đi tuy nhiên do khoảng cách quá gần nên phần đầu xe ô tô khách đã va chạm với phía bên phải thân xe máy do ông Phớn điều khiển gây ra vụ tai nạn giao thông. Hậu quả Ông Phạm Văn P tử vong trên đường đi cấp cứu tại bệnh viện.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 316/KL-KTHS ngày 20- 02- 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: Nguyên nhân chết: Nạn nhân Phạm Văn Phớn chết do chấn thương vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ. Cơ chế: Do va đập và trà sát.
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm pháp của mình như đã nêu trên.
Từ nội dung vụ án như trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 81/2023/HS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy - tỉnh Nam Định, đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra cấp sơ thẩm còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và người tham gia tố tụng.
- Ngày 25-9-2023, bị cáo Bùi Xuân T kháng cáo với nội dung đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Bị cáo Bùi Xuân T giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, xác định đã bị cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 BLHS là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo trình bày lý do kháng cáo hiện nay hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã ly hôn vợ, đang là lao động chính trong gia đình nuôi dưỡng mẹ già và nuôi 02 con ăn học, bị cáo xuất trình đơn có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện bị cáo phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
+ Đại diện VKSND tỉnh Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày kết luận về vụ án: Xét kháng cáo của bị cáo thấy, cấp sơ thẩm đã xét xử đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình đơn thể hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo Bùi Xuân T nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự tố tụng phúc thẩm.
Xét nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Sáng ngày 07- 02- 2023, Bùi Xuân T có giấy phép lái xe theo quy định, đã điều khiển xe ô tô khách BKS 18F-001.65 đi trên trục TL489B, hướng từ ngã ba T đi UBND thị trấn Q . Khi đến khu vực cách ngã tư cầu Q khoảng 30m, T điều khiển xe đi lấn sang làn đường ngược chiều khoảng 01m, đã va chạm với xe máy BKS 18GA-017.40 do Ông Phạm Văn P điều khiển, làm ông Phớn ngã xuống đường và bị tử vong. Do đó hành vi của bị cáo Bùi Xuân T đã bị cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS là có căn cứ pháp luật.
Trên cơ sở xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhận thấy bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng, đã bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 BLHS và tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Tại cấp phúc thẩm bị cáo có đơn xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện bị cáo phạm tội lần đầu, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình - đây là tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS; đối chiếu với các quy định của pháp luật và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy có đủ điều kiện chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo, ở tại nơi cư trú dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, tự cải tạo lao động để khắc phục sửa chữa sai phạm.
Như vậy mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đáp ứng được công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm mà Đảng và Nhà nước đã đề ra đồng thời cũng thể hiện tính khoan hồng nhân đạo của pháp luật Việt Nam đối với người phạm tội đã biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, nên các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo - kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.
2. Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2.1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS;
Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Bùi Xuân T cho UBND xã An Khang - thành phố Tuyên Quang
- tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
3. Án phí phúc thẩm hình sự: Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo - kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo - kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND - VKS - CA huyện Giao Thủy - Chi cục THA dân sự huyện Giao Thủy -VKS tỉnh Nam Định - Bị cáo; UBND xã - Lưu HS, tòa HS | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Thị Mai Hương |