vanban.org

Bản án 109/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phan Thị N và ông Trần Văn C. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu, không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHỤNG HIỆP
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:109/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 6 - 2023
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP-TỈNH HẬU GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lâm Thanh Vũ;

2. Ông Nguyễn Văn Dương.

-Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 27 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 213/2023/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2023/QĐXXST-HN, ngày 25 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Phan Thị N, sinh năm 1965.

Địa chỉ: ấp C, xã B, huyện H, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn: Trần Văn C, sinh năm 1961.

Địa chỉ: ấp C, xã B, huyện H, tỉnh Hậu Giang.

Nguyên đơn có mặt. Bị đơn vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Phan Thị N (Sau đây gọi bà N) trình bày:

Giữa bà và bị đơn Trần Văn C (Sau đây gọi ông C) qua tìm hiểu nhau mà tự nguyện quyết định đi đến hôn nhân vào năm 1985 nhưng không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do chồng bà không lo làm ăn, không quan tâm gì đến đời sống gia đình, vợ con, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, chồng bà thường xuyên kiếm chuyện chửi mắn, có hành vi đánh đập bà, đã nhiều lần khuyên ngăn, hoà giải hàn gắn tình cảm nhưng không thành nên đã sống ly thân. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

-Về hôn nhân: Xin ly hôn với ông C.

-Về con chung: Có ba người con chung đều đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu xem xét về quyền nuôi con.

-Về nợ và tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng, bị đơn Trần Văn C vắng mặt nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn được qui định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Trần Văn C được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, vắng mặt không lý do nhưng không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với đương sự này.

Xét về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông C qua tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến tới hôn nhân năm 1985, mặc dù không đăng ký kết hôn nhưng hôn nhân này được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 nên được xem là hôn nhân thực tế hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà N: Bà và ông C trong thời gian chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo bà N trình bày thì ông C không quan tâm lo lắng gia đình là đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, vợ chồng bất đồng quan điểm sống mà không có giải pháp khắc phục để hoà giải hàn gắn tình cảm mà đã chọn cách sống ly thân; xét thời gian ly thân thì tự ai người đó sống, không ai quan tâm, lo lắng cho ai. Trong quá trình giải quyết, Tòa án tạo điều kiện để hòa giải đoàn tụ, ông C vắng mặt, chứng tỏ rằng ông C cũng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Trong khi tại phiên tòa, bà N xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông C và cương quyết xin ly hôn; từ đó thấy rằng hôn nhân giữa hai người đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N.

Về con chung: Xét ba người con chung đều đủ tuổi trưởng thành nên không xem xét về quyền nuôi con.

Về nợ và tài sản chung: Bà N, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phan Thị N và ông Trần Văn C.

2. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu, không xem xét.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thị N phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002920, ngày 07 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thành án phí, không phải nộp thêm.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ