vanban.org

Bản án 109/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n c các Đi u , , , , , Luật H n nhân và ia đình n m

0 ; các Đi u 28, 35, 39, 144, 147,227, 228, 7 Bộ luật Tố tụng dân sự n m 0 ; điểm a khoản Đi u 7 Nghị quyết BT H ngày 0 tháng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? C n c các Đi u , , , , , Luật H n nhân và ia đình n m
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 109/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26/4/2023
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Lâm Sơn;

2. Võ Thanh Nhàn.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 102/2023/TLST-

HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly

hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

180/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023, Quyết định hoãn phiên

tòa số 212/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Hồng V, sinh năm 1991; địa chỉ: tổ 17, ấp T, xã

T, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Bị đơn: Ông Bùi X T, sinh năm 1983; địa chỉ: số nhà 460, tổ 20, ấp B, xã

Bình P, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ

án, nguyên đơn bà Bùi Thị Hồng V trình bày, do quen biết, bà V và ông T kết

hôn vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh

An Giang vào ngày 17/11/2011. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh có 01 con chung tên Bùi Thanh X, sinh ngày 02/4/2012 hiện đang sống chung với ông T.

Thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn,

nguyên nhân là do ông T ăn chơi cờ bạc, đá gà qua mạng, thường xuyên uống rượu bia, không chăm lo vợ con, thiếu nợ bà V phải trả nợ thay, bà V có khuyên như không được. Vợ chồng không còn chung sống với nhau khoảng 08 tháng nay, hai bên cũng không lui tới thăm nhau.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà V yêu cầu được ly hôn với ông

T; đồng ý để ông T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 01 con chung, bà V không cấp dưỡng nuôi dạy con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu

cầu khởi kiện: Giấy chứng nhận kết hôn số 193/KH quyển số 01/2011 ngày 17/11/2011 do Ủy ban nhân dân xã Bình Phước X, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho bà Bùi Thị Hồng V và ông Bùi X T (bản chính); giấy khai sinh số 158 ngày 30/5/2012 do Ủy ban nhân dân xã Bình Phước X, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho Bùi Thanh X (bản sao).

- Bị đơn ông Bùi X T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt

trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ yêu cầu như đã cung cấp

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn

đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà V và ông T kết hôn, có

đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà V và ông T hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn và không còn sống chung khoảng 08 tháng nay.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà V yêu cầu ly hôn với ông T. Bà

V, ông T không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V đối với ông T theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà V, giao con chung cho

ông T chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, do ông T không yêu cầu bà V cấp dưỡng nuôi

dạy con chung nên không giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật

Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V đối với ông T; ông T

được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; bà V không phải cấp dưỡng nuôi

con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Bà Bùi Thị Hồng V khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Bùi X T. Đồng thời,

ông T cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và

gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo

quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều

39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Bùi Thị Hồng V có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Bùi X T đã được

triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến

hành xét xử vắng mặt bà V, ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1

Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Bà V và ông T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của

pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà V và ông T là hợp pháp, được pháp luật

thừa nhận và bảo vệ.

Bà V xác định, trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu

thuẫn, nguyên nhân là do ông T ăn chơi cờ bạc, đá gà qua mạng, thường xuyên

uống rượu bia, không chăm lo vợ con, thiếu nợ bà V phải trả nợ thay, bà V có

khuyên như không được. Vợ chồng không còn chung sống với nhau khoảng 08

tháng nay, hai bên cũng không lui tới thăm nhau.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống và không còn

sống chung khoảng 08 tháng nay. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn

nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho ông T

nhưng ông T không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà V. Cho nên, có căn

cứ xác định mâu thuẫn giữa bà V, ông T là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không

còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận

yêu cầu ly hôn của bà V đối với ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật

Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà V xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng

có sinh có 01 con chung tên Bùi Thanh X, sinh ngày 02/4/2012. Hiện con chung đang sống với ông T. Bà V đồng ý để ông T được nuôi con chung, bà V không cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, con chung đang được ông T chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn

định. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp cháu phát triển tốt về thể chất tinh thần. Đồng thời, theo biên bản ghi ý kiến ngày 10/3/2023 do cán bộ Tòa án lập, cháu X đã có nguyện vọng sống chung với cha (ông T) khi cha mẹ ly hôn và ông T cũng không phản đối với ý kiến của bà V đồng ý để cho bà được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, do đó Hội đồng xét xử giao con chung cho ông T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, ông T không yêu cầu bà V cấp dưỡng nuôi

con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà V xác định không yêu cầu Tòa án

xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà V phải chịu án phí hôn nhân sơ

thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

C n c các Đi u , , , , , Luật H n nhân và ia đình n m

0 ; các Đi u 28, 35, 39, 144, 147,227, 228, 7 Bộ luật Tố tụng dân sự n m 0 ; điểm a khoản Đi u 7 Nghị quyết

0

BT H ngày 0 tháng

n m 0 của y ban thường vụ quốc hội quy định v m c thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Hồng V.

1. Về hôn nhân: Bà Bùi Thị Hồng V được ly hôn với ông Bùi X T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 193/KH quyển số 01/2011 ngày 17/11/211 do

Ủy ban nhân dân xã Bình Phước X, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho bà Bùi Thị Hồng V và ông Bùi X T không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Ông Bùi X T được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung

tên Bùi Thanh X, sinh ngày 02/4/2012. Bà Bùi Thị Hồng V không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Ông Bùi X T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà

Bùi Thị Hồng V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có

thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về án phí sơ thẩm:

Bà Bùi Thị Hồng V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 00 000 ba tr m

nghìn đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 00 000 ba tr m nghìn

đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013263 do Chi

cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 17 tháng 02

năm 2023; bà Bùi Thị Hồng V đã nộp đủ án phí.

Ông Bùi X T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Thời hạn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử

phúc thẩm của bà Bùi Thị Hồng V, ông Bùi X T được tính là 15 ngày kể từ ngày

bản án được giao hoặc được niêm yết.

T hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Đi u Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quy n thoả thuận thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi

hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đi u , 7 và 9 Luật

thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Đi u

30 Luật thi hành án dân sự

Cỡ chữ